phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội Chƣơng 3: Thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội Chƣơng 4: Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính trong hoạt động Khoa học xã hội 7 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC XÃ HỘI 1. Nhóm các công trình bàn về lý thuyết quản lý tài chính công Tài chính công là lĩnh vực đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới tập trung nghiên cứu. Trong số các công trình bàn về lĩnh vực này, công trình Public Finance in Theory and Practice của Prest và Barr xuất bản năm 1979 [65] đƣợc nhắc đến nhiều nhất. Ông đã cho tái bản lần thứ sáu cuốn sách của mình về tài chính công.
Trong công trình này, những nội dung cơ bản nhất về lý thuyết tài chính công đã đƣợc tác giả giới thiệu; đồng thời, một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở Anh đã đƣợc đƣa ra phân tích và lồng ghép vào các nội dung lý thuyết. Nửa thế kỷ sau, với cùng tên sách Public Finance in Theory and Practice (2011), tác giả H. Ulbrich [72] đã đƣa ra những vấn đề thực tiễn mới về tài chính công ở Mỹ. Rất nhiều tác giả cũng đã xuất bản cùng tên sách và những cuốn sách nhƣ vậy (A.
Singh, 1982; Richard Musgrave, 2004; A. Auerbach, 2009) luôn là những sách bán chạy và đƣợc tái bản nhiều lần. Theo học thuyết của Solomon [69], quản lý tài chính không chỉ quản lý thu - chi mà còn quản lý cho cả giai đoạn lập dự toán và quyết toán, phân tích kế hoạch triển khai, quản lý các mối quan hệ phát sinh giữa chủ thể trong nền kinh tế, trong các mối quan hệ tiền tệ. Đây cũng chính là lý thuyết đƣợc sử dụng trong luận án để phân tích những vấn đề liên quan đến quản lý tài chính.
Cũng về lĩnh vực tài chính công, công trình của nhóm tác giả Rajaram, Le, Biletska, và Brumby [66] đã cung cấp một cách tiếp cận thực dụng và khách quan quá trình chẩn đoán để đánh giá hệ thống quản lý đầu tƣ công cho các chính phủ. Từ những yếu kém trong quản lý đầu tƣ công có thể phủ nhận lập luận cốt lõi là mở rộng không gian tài khoá bổ sung cho đầu tƣ công có thể nâng cao triển vọng kinh tế trong tƣơng lai, vì vậy, các quy trình phối hợp lựa chọn và quản lý đầu tƣ công là rất quan trọng. Bài viết đã chỉ ra 8 đặc trƣng cơ bản của một hệ thống đầu tƣ công tốt: (1) hƣớng dẫn đầu tƣ, phát triển dự án và sàng lọc sơ bộ; (2) thẩm định dự án chính thức; (3) đánh giá độc lập thẩm định; (4) lựa chọn và ngân sách của dự án; (5) thực hiện dự án; (6) điều chỉnh dự án; (7) hoạt động cơ sở; và (8) đánh giá dự án. 8 Các tác giả nhấn mạnh vai trò của các quá trình lập và điều hành ngân sách (liên kết ở giai đoạn thích hợp để mở rộng nguồn lực ngân sách) có khả năng mang lại hiệu quả lớn nhất cho các quyết định đầu tƣ công, là giải pháp cơ bản nhằm cải cách những thiếu sót trong chi tiêu đầu tƣ công, hƣớng tới hoàn thiện quản lý chi đầu tƣ từ NSNN.
Tuy nhiên các tác giả không đƣa ra một phƣơng pháp cụ thể cho quá trình đánh giá hay quản lý tổ chức thực hiện, mà chỉ đƣa ra những khung định hƣớng để đánh giá các giai đoạn chính của quá trình thực hiện đầu tƣ công. Nghiên cứu của Streeck và Mertens [70], đã đề cập đến cơ cấu chi đầu tƣ công trong điều kiện ngân sách hạn chế, thông qua khảo sát thực tế đầu tƣ công của ba nƣớc: Mỹ, Đức và Thụy Điển từ năm 1981 đến năm 2007. Chi đầu tƣ công của các quốc gia này xu hƣớng tăng cao trong cả giai đoạn 1981-2007 và chủ yếu tăng đầu tƣ về giáo dục, nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ cho gia đình, chính sách thị trƣờng lao động. Các tác giả đánh giá năng lực của Chính phủ trong điều kiện thắt lƣng buộc bụng tài chính để chuyển các nguồn lực tài chính vốn đã hạn hẹp sang tài trợ cho cho các chƣơng trình định hƣớng tƣơng lai nhằm thực hiện mục tiêu xã hội công bằng và hiệu quả hơn.
Những dữ liệu tại Đức, Thụy Điển và Mỹ trong những năm 1981-2007 là cơ sở để để khám phá những động lực cho chính sách chi tiêu với sự kỳ vọng rằng những nỗ lực củng cố mục tiêu công bằng và hiệu quả hơn sẽ đƣợc thực hiện trong thập kỷ tới. Ở trong nƣớc, việc nghiên cứu về tài chính công mới đƣợc chú ý trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI với hàng loạt các công trình nghiên cứu, điển hình với những công trình sau: Tác giả Dƣơng Đăng Chinh [16], đã nêu khái niệm, đặc điểm, nội dung của quản lý tài chính công, những công cụ quản lý của tài chính công. Tác giả Phạm Ngọc Hiến [28], đã tập trung nghiên cứu các lý luận cơ bản về tài chính công và vai trò, chức năng của tài chính công, đồng thời phân tích thực trạng tài chính công ở nƣớc ta, bao gồm hoạt động đánh thuế, hoạt động, chi tiêu ngân sách trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở Việt Nam; Phân tích thực trạng quản lý tài chính công ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI và đề xuất các giải pháp để tăng cƣờng quản lý tài chính công trong giai 9 đoạn tiếp theo. Các nghiên cứu này mới chỉ đƣa ra những giải pháp chung mang tính định hƣớng, chƣa có đƣợc những giải pháp cụ thể.
Tác giả Bạch Thị Minh Huyền [30] đã có phân tích khá toàn diện về quản lý chi tiêu công, về các chính sách quản lý chi tiêu công, những công cụ quản lý của nhà nƣớc đối với chi tiêu công. Những công trình nghiên cứu đã đề cập chi tiết đến lý thuyết quản lý tài chính công nhƣng một công trình đề cập cụ thể đến lý thuyết quản lý tài chính cho hoạt động KHXH thì hiện chƣa có. Nhóm các công trình bàn về huy động nguồn lực tài chính cho hoạt động khoa học Tiếp cận khía cạnh huy động nguồn lực tài chính cho hoạt động khoa học đã đƣợc các nhà nghiên cứu trong nƣớc quan tâm nghiên cứu. Nghiên cứu của Mai Ngọc Cƣờng [24], phân tích các số liệu tài chính dành cho KH&CN, nêu ra các hạn chế trong công tác phân bổ.
Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra một số vấn đề về đầu tƣ cho hoạt động KH&CN, đó là: Tỷ lệ đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc cho hoạt động KH&CN còn thấp và việc phân bổ nguồn kinh phí này cho các nhiệm vụ của ngành KH&CN còn chƣa hợp lý; Việc phân bổ kinh phí sự nghiệp KH&CN còn dàn trải làm cho hiệu quả sử dụng vốn chƣa cao. Nghiên cứu chỉ ra những bất cập cả về phƣơng thức đầu tƣ tài chính. Tuy nhiên, nghiên cứu chƣa đƣa ra đƣợc kiến nghị gì mới mà vẫn chỉ là những đề xuất mang tính định hƣớng chung. Bên cạnh đó, tổ chức khoa học và công nghệ trong trƣờng đại học không phải là mô hình tổ chức khoa học và công nghệ có tính phổ quát, đại diện cao, có những đặc thù hạn chế do nhiệm vụ chính của tổ chức là đào tạo chứ không phải nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Phạm Văn Đức, Nguyễn Đình Hòa [25], đã chỉ ra những bất cập trong đầu tƣ cho KHXH so với nguồn đầu tƣ cho KH&CN, nghiên cứu chỉ ra những đặc thù của KHXH và đề xuất những hạn chế trong đầu tƣ cho nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong khoa học xã hội thời gian qua. Nghiên cứu chỉ đƣa ra những định hƣớng căn bản liên quan đến quản lí nhà nƣớc, chƣa đề cập đến quản lí tài chính. 10 Nghiên cứu của tác giả Đỗ Diệu Hƣơng [31], chỉ rõ thực trạng đầu tƣ tài chính cho hoạt động Khoa học và công nghệ ở nƣớc ta giai đoạn 2006-2010 còn thấp, đặc biệt là đầu tƣ tài chính cho hoạt động KHXH do nguồn đầu tƣ còn hạn chế, hầu nhƣ 100% là từ NSNN. Dựa trên so sánh tỷ trọng đầu tƣ tài chính cho hai đơn vị hàng đầu là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam nghiên cứu cho thấy việc đánh giá chƣa thỏa đáng và đúng với giá trị về vai trò của KHXH.
Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp về cơ chế phân bổ ngân sách cho hoạt động KHXH nhƣ: Đổi mới cơ chế phân bổ, giao dự toán; hƣớng đến giao dự toán theo đầu ra của sản phẩm khoa học; khuyến khích và tạo điều kiện để nâng cao tính tự chủ cho tổ chức khoa học và công nghệ cũng nhƣ cá nhân các chủ nhiệm đề tài. Với luận văn thạc sĩ nên nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào đánh giá cơ chế phân bổ ngân sách cho KHXH, chƣa có đánh giá sâu và tầm bao quát cao hơn cả về lý luận và thực tiễn đối với mô hình tổ chức khoa học và công nghệ nên cần tiếp tục mở rộng nghiên cứu rộng và sâu hơn để có những kiến nghị giải pháp mang tính ứng dụng cao hơn trong điều kiện mở rộng tính tự chủ cho các tổ chức KH&CN. Nghiên cứu của Nguyễn Công Nghiệp [33], trên cơ sở nghiên cứu lí luận, thực tiễn tại Việt Nam (giai đoạn 2005-2010) và kinh nghiệm nƣớc ngoài, đề tài đã chỉ ra 7 điểm hạn chế và 2 nhóm nguyên nhân về cơ chế và chính sách đầu tƣ tài chính cho hoạt động nghiên cứu KHXH, đồng thời đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính vĩ mô nhƣ: (1) Đổi mới về quy mô cơ cấu, phƣơng thức để nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tƣ; (2) Đổi mới định mức chi tiêu tài chính cho Hoạt động KHXH; (2) Đổi mới quy trình lập dự toán, giải ngân và quyết toán kinh phí đối với hoạt động nghiên cứu khoa học; (4) Có cơ chế tài chính riêng nhằm khuyến khích lao động sáng tạo phát huy tài năng. Nghiên cứu của Bùi Thiên Sơn [38], [40] nhận định “công tác tài chính có vai trò quan trọng để tạo đột phá cho phát triển Khoa học và công nghệ quốc gia”.