Chương 1 HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN VỚI QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1.1 Học chế tín chỉ và đào tạo theo học chế tín chỉ tại Đại học Quốc gia Hà Nội 1.1 Học chế tín chỉ Tín chỉ là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng để học 1 môn học, bao gồm: 1) thời gian học tập trên lớp; 2) thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được quy định ở đề cương môn học; 3) thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài…Tín chỉ được hiểu là khối lượng kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của môn học mà người học cần phải tích lũy được trong một khoảng thời gian nhất định. Học chế tín chỉ được hiểu là đào tạo sử dụng tín chỉ làm đơn vị đo kiến thức, đồng thời là đơn vị để đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Sau khi tích lũy được một số lượng tín chỉ tối thiểu là sinh viên đã hoàn thành chương trình đào tạo. Trong quá trình học tập, giảng viên sẽ đánh giá kết quả học tập của sinh viên một cách thường xuyên bằng nhiều hình thức: bài tập, thảo luận có đánh giá, tổng thuật tư liệu.
Sau khi tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định của chương trình đào tạo, sinh viên sẽ đạt được văn bằng đại học. Khối lượng kiến thức cần tích lũy trong một khóa học là xác định nhưng giờ học có thể rút ngắn hoặc kéo dài so với thời gian qui định. Sinh viên không phải phụ thuộc vào sự sắp đặt trước mà tùy theo năng lực, điều kiện riêng có thể đăng ký các môn học phù hợp với quy định chung của nhà trường. Hệ thống tín chỉ dùng cách đánh giá thường xuyên và dựa vào sự đánh giá đó đối với các môn học tích lũy được để cấp bằng cử nhân.
Đối với các chương trình đào tạo sau đại học (cao học và đào tạo tiến sĩ) ngoài các kết quả đánh giá thường xuyên còn có các kỳ thi tổng hợp và các luận văn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tổ chức đào tạo bao gồm sinh viên chính qui, không chính qui và dự thính. Sinh viên được phân ngành ngay sau khi vào trường hoặc sau khi đã tích lũy một số tín chỉ theo qui định. Tồn tại hai hình thức tổ chức lớp: lớp sinh viên và lớp môn học. Giáo viên chủ nhiệm lớp sinh viên có vai trò cố vấn học tập cho sinh viên, lập kế hoạch trong từng học kỳ và toàn khóa học.
Nhà trường thiết lập thời khóa biểu đến từng nhóm sinh viên và giáo viên đảm bảo sinh viên cùng theo học một chương trình riêng. Theo học chế tín chỉ, không có khái niệm lưu ban như hình thức đào tạo theo niên chế. Sinh viên chỉ bị buộc thôi học nếu không hoàn tất khóa học trong một số học kì qui định hoặc có số tín chỉ tích lũy nhỏ hơn tổng số tín chỉ tối thiểu là 2/3 mà sinh viên đăng kí theo qui định của nhà trường ở mỗi học kỳ. Nội dung học chế tín chỉ Đơn vị tín chỉ Một tín chỉ có một trong các giá trị sau: - 01 giờ học lý thuyết trên lớp với 2 giờ chuẩn bị bài trong 1 tuần, kéo dài trong 1 học kì 15 tuần (tương đương với 15 tiết lý thuyết và 30 tiết chuẩn bị ở nhà/học kỳ); - 2 giờ thực hành, thực tập ở studio hay trong phòng thí nghiệm với 1 giờ chuẩn bị bài trong 1 tuần, kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần (tương đương với 30 tiết thực hành và 15 tiết chuẩn bị ở nhà/học kỳ); - 3 giờ tự học, tự nghiên cứu được đánh giá và tích lũy vào kết quả cuối cùng của môn học trong 1 tuần, kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần (tương đương với 45 tiết tự học, tự nghiên cứu/học kỳ).
- Giờ tiểu luận, đồ án học phần, khóa luận tốt nghiệp 45 giờ được tính 1 tín chỉ. Giờ thực tập xí nghiệp 60 giờ được tính 1 tín chỉ. Giờ tín chỉ Giờ tín chỉ là một trong các giá trị sau: - 1 giờ học trên lớp và 2 giờ chuẩn bị bài/ 1tuần. - 2 giờ thực hành và 1 giờ chuẩn bị bài/1tuần.
- 3 giờ tự học, tự nghiên cứu/1tuần. Tùy theo tính chất đặc thù của môn học, hình thức tổ chức dạy học, giờ tín chỉ có thể thay đổi, song thời gian tuyệt đối cho 1 giờ tín chỉ không nhỏ hơn 3. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó, giờ học lý thuyết hoặc các giờ thực hành, thảo luận… được bố trí vào thời khóa biểu. Hệ thống tín chỉ Hệ thống tín chỉ là bảng liệt kê: - Số tín chỉ được gán cho mỗi môn học.
Con số này quy định số giờ lên lớp lí thuyết, hoặc thực hành cho một môn học trong 1 tuần trong suốt học kì. - Số tín chỉ cần tích lũy để đạt một văn bằng. - Số lượng môn học và các phương thức tổ hợp các môn học để tích lũy số tín chỉ cần cho một văn bằng. Khối lượng giảng dạy và học tập: Được tính theo tín chỉ.
Tất cả các môn học các học phần được qui ra thành số tín chỉ và chương trình đào tạo cũng qui định thông qua số tín chỉ tối thiểu. Khái quát về Đại học quốc gia Hà Nội Đại học Quốc gia Hà Nội (tên giao dịch tiếng Anh Vietnam National University, Hanoi, viết tắt: VNU) là một trong hai Đại học Quốc gia của Việt Nam, đặt ở Hà Nội. Đây là một cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ, đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam. ĐHQG được thành lập trên cơ sở sắp xếp lại ba trường đại học lớn ở Hà Nội: trường đại học Tổng hợp Hà Nội, trường đại học Sư phạm Hà Nội 1 và trường đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội.
ĐHQGHN chính thức bước vào hoạt động theo quy chế do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 5/9/1994. Sau một thời gian hoạt động do nhu cầu đổi mới giáo dục, đến cuối năm 1999, trường đại học Sư phạm Hà Nội I tách ra khỏi ĐHQGHN theo Quyết định số 201/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để xây dựng một trường Đại học Sư phạm trọng điểm. Ngày 01/02/2001 Chính phủ ban hành Nghị định số 07/2001/ND- CP về Đại học quốc gia. Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu giai đoạn phát triển mới về quy mô và chất lượng của ĐHQGHN, một Trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu và ứng dụng khoa học- công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao hàng đầu, đóng vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học của cả nước.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày 12/2/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 16/2001QĐ- TTg ban hành Qui chế về tổ chức và hoạt động của Đại học Quốc gia, khẳng định và tăng cường hơn nữa quyền tự chủ của các Đại học quốc gia trong nhiều lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là đào tạo, nghiên cứu khoa học- công nghệ, tổ chức cán bộ, kế hoạch tài chính và hợp tác quốc tế. Hiện nay, Đại học Quốc gia Hà nội có 6 trường đại học thành viên: Trường ĐH công nghệ, Trường ĐH Kinh tế, Trường ĐH KHTN, ĐH KHXH&NV, trường ĐH Ngoại ngữ, trường ĐHGD; 03 viện nghiên cứu khoa học thành viên; 04 khoa trực thuộc; 08 trung tâm nghiên cứu, đào tạo trực thuộc. Ngoài ra còn có 08 đơn vị phục vụ. Đại học Quốc gia Hà Nội có nhiệm vụ: - Xây dựng và phát triển mô hình một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, ngang tầm với các đại học tiên tiến trong khu vực, tiến tới đạt trình độ quốc tế.
- Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước - Nghiên cứu phát triển khoa học- công nghệ, góp phần giải quyết các vấn đề về thực tiễn do kinh tế xã hội đặt ra; tham gia tư vấn hoạch địch chiến lược, chính sách và các giải pháp phát triển giáo dục- đào tạo khoa học- công nghệ và kinh tế- xã hội. - Đóng vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học, hỗ trợ chuyên môn cho các trường đại học cao đẳng trong cả nước. - Là trung tâm giao lưu quốc tế về văn hóa, khoa học giáo dục của cả nước Theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của ĐHQG do Thủ tướng Chính phủ ban hành, ĐHQGHN có 3 cấp quản lí hành chính: 1. ĐHQGHN là đầu mối được giao các chỉ tiêu kế hoạch hàng năm, có tư cách pháp nhân, có con dấu mang hình quốc huy 2.
Các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên, các khoa, các trung tâm nghiên cứu, đơn vị trực thuộc ĐHQGHN có tư cách pháp nhân độc lập, có con dấu tài khoản riêng. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các khoa, các phòng nghiên cứu thuộc trường đại học, viện nghiên cứu. ĐHQGHN họat động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng chính phủ, được làm việc với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, coq quan của Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW để giải quyết những vấn đề liên quan đến hoạt động và phát triển ĐHQGHN.
Các trường đại học và nghiên cứu thuộc ĐHQGHN là các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học có chức năngm nhiệm vụ và quyền hạn như các trường đại học, viện nghiên cứ khác được quy định trong Luật giáo dục và Luật Khoa học công nghệ Giám đốc đồng thời là chủ tịch Hội đồng ĐHQGHN và các phó giám đốc ĐHQGHN do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm. Hiệu trường trường đạihọc, viện trưởng viện nghiên cứ thuộc ĐHQGHN do Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo bổ nhiệm theo đề nghị của Giám đốc ĐHQGHN. Các phó hiệu trưởng, phó viện trưởng và lãnh đạo các đơn vị trực thuộc khác do Giám đốc ĐHQGHN bổ nhiệm. [7,tr8] ĐHQGHN có trên 60 ngành học được đào tạo theo hai loại hình: hệ chính quy tập trung và hệ không tập trung.