CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC ĐỔI MỚI NỘI DUNG 1. Khái niệm về nội dung dạy học: 1. Nội dung dạy học (NDDH) là hệ thống những tri thức, kỹ n ăng, kỹ x ảo có liên quan đến một ngành nghề nhất định và cách thức hoạt động sáng tạo. Nắm vững chúng đảm bảo phát triển năng lực nghề nghiệp và phẩm chất trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học phẩm chất đạo đức và những hành vi tương ứng, chuẩn bị cho người học bước vào cuộc sống tự lập góp phần vào sự phát triển khoa học – công nghệ, kinh tế xã hội của đất nước [7].
NDDH tạo nên nội dung hoạt động dạy và hoạt động học trong sự thống nhất với nhau. Nó quy định những hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà học sinh (HS) cần lắm vững, đảm bảo hình thành được ở chung cơ sở thế giới khoa học và những phẩm chất đạo đức cách mạng của con người mới, chuẩn bị cho chúng bước vào cuộc sống, vào hoạt động lao động. Các yếu tố của nội dung dạy học. Mỗi môn học đều có những tính chất, đặc điểm khác nhau (về đối tượng nội dung và mức độ phản ánh …) nhưng tổng thể chúng đều cấu trúc bởi các yếu tố cơ bản sau: - Hệ thống tri thức về khoa học kỹ thuật, cách thức hoạt động, giao tiếp và định hướng giá trị trong xã hội.
- Hệ thống kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp. - Hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo. - Hệ thống thái độ đối với công việc, với xã hội, với người khác và chỉnh bản thân mình. 14 NDDH được thể hiện qua từng môn học chuyên ngành.
NDDH được trình bày dưới nhiều hình thức thể hiện: - Đối tượng cụ thể. - Các khái niệm kỹ thuật. - Các công cụ dụng cụ kỹ thuật. - Các dạng nguyên liệu, năng lượng.
- Các quá trình công nghệ – kỹ thuật và các phương pháp gia công vật liệu. Mỗi thành phần kiến thức nói trên có những đặc điểm khác nhau về hình thức và nội dung phản ánh: - Các khái niệm kỹ thuật thường thể hiện bằng ngôn ngữ kỹ thuật chuyên ngành với các mệnh đề có cấu trúc chặt chẽ về ngữ pháp. - Các phương tiện, thiết bị kỹ thuật thường được thể hiện dưới dạng sơ đồ, bản vẽ kỹ thuật. - Các nguyên lý kỹ thuật thường được thể hiện dưới dạng công thức toán hoặc các quan hệ lôgic.
Do đó mỗi bài học cần được sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau cho phù hợp với hình thức vận động bên trong của NDDH. Các thành phần của nội dung dạy học. Hệ thống những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, về kỹ thuật và về các các thức hoạt động. Hệ thống những tri thức được đưa vào NDDH phải bao gồm nhiều dạng khác nhau đặc trưng cho các khoa học cơ bản.
Có như vậy, những tri thức mới có thể hoàn thành được các chức năng: xây dựng bức tranh chung về thế giới, là công cụ của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn; là cơ sở của thế giới quan khoa học toàn vẹn. Những tri thức bao gồm nhiều dạng khác nhau. Đó là : - Các sự kiện thông thường và những sự kiện khoa học. - Các khái niệm cơ bản và các thuật ngữ khoa học.
15 - Các quy luật, các định luật, các học thuyết. - Những tri thức về cách thức hoạt động, về các phương pháp nhận thức và lịch sử thu lượm tri thức cũng như lịch sử khoa học. - Những tri thức đánh giá, những tri thức về các chuẩn mực, thái độ đối với các hiện tượng khác nhau của cuộc sống do xã hội quy định. Các dạng tri thức này liên quan mật thiết với nhau, mặc dù chúng có vai trò khác nhau về việc thực hiện các chức năng của tri thức.
Do đó, trong quá trình dạy học, chúng ta cần bồi dưỡng cho HS các dạng tri thức đó một cách đồng bộ. Hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động trí óc và lao động chân tay. Trong NDDH, hệ thống tri thức nói chung và hệ thống tri thức về cách thức hoạt động là rất quan trọng. Nếu không có chúng thì không thể nói tới việc thực hiện các cách thức hoạt động một cách tự giác.
Tuy nhiên chỉ có tri thức thì chưa đủ, người học phải vận dụng được tri thức đó vào thực tiễn thông qua hoạt động và qua kinh nghiệm. Kinh nghiệm vận dụng này được loài người tích lũy trong quá trình lao động. Nó chỉ được coi là của người học khi họ đã nắm vững, đã biến thành vốn liếng riêng của mình, khi người học xuất hiện những kỹ năng, kỹ xảo nhất định. Do đó, trong chương trình và giáo trình, chúng ta phải quy định hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết mà người học bắt buộc phải nắm vững.
Đây có thể là những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động thực tiễn và hoạt động trí óc có liên quan đến từng môn học hoặc liên quan chung đến mọi môn học; thí dụ, các môn vật lý, hóa học, toán… có những kỹ năng, kỹ xảo đặc thù về tiến hành thí nghiệm, về giải bài tập… Xong, những kỹ năng xây dựng dàn ý, tách những cái chủ yếu trong nội dung học tập, sử dụng hợp lý các phương tiện hoạt động học tập… lại là những kỹ năng chung cho nhiều môn. Hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo. Hệ thống kinh nghiệm này được loài người tích lũy trong quá trình phát triển các hoạt động thực tiễn đảm bảo cho người học có năng lực tiếp tục phát triển nền văn hóa xã hội. Nói cách khác, nó có tác dụng chuẩn bị cho người học tìm kiếm cách giải 16 quyết những vấn đề mới cũng như chuẩn bị tham gia cải tạo một cách sáng tạo hiện thực khách quan.
Nhờ vậy, nhười học sẽ phát triển được tính tích cực sáng tạo; mặt khác, sẽ đề phòng và khắc phục được tính thụ động, tính máy móc, tính hình thức trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Ở đây có điều đáng chú ý là, không một khối lượng tri thức nào được tiếp thụ dưới dạng chuẩn bị sẵn, không một kỹ năng nào được nắm theo mẫu sẵn lại có thể đảm bảo cho con người phát triển được năng lực sáng tạo. Vì thế, vấn đề được đặt ra là cần phải bồi dưỡng cho thế hệ trẻ năng lực sáng tạo đó. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng, hoạt động sáng tạo có những đặc điểm quan trọng của nó: - Trước hết, nó giúp người học độc lập di chuyển được tri thức, kỹ năng và tình huống mới, có nghĩa là khi giải quyết một vấn đề mới nào đó, người học có năng lực vận dụng những tri thức và những kỹ năng mà họ đã thu lượm từ trước.
- Bên cạnh đó, nó còn giúp cho người học có năng lực nhìn thấy vấn đề mới trong tình huống quen thuộc (như thấy được chức năng mới của đối tượng; độc lập phối hợp các cách thức hoạt động đã biết vào tình huống mới; nhìn thấy cấu trúc của đối tượng; nhìn thấy cách thức giải quyết tối ưu trong hàng loạt cách thức giải quyết. Kinh nghiệm về thái độ đối với thế giới, đối với con người. Kinh nghiệm này, cùng với tri thức, kỹ năng, sẽ tạo nên điều kiện để hình thành niềm tin và lý tưởng, hình thành hệ thống giá trị đúng đắn ở người học. Do đó, về thực chất, nó là kinh nghiệm về thái độ đánh giá có xúc cảm đối với tri thức khoa học, đối với các chuẩn mực đạo đức, đối với sự thể hiện về mặt thẩm mỹ của hiện thực, đối với lý tưởng xã hội – chính trị… Và chừng nào người học chưa hình thành được thái độ này thì chừng ấy họ chưa có trình độ đạo đức cần thiết, mặc dù có nắm tri thức và kỹ năng.
17 Trên đây là bốn thành phần không thể thiếu được của NDDH nhằm góp phần đào tạo (ĐT), giáo dục (GD) thế hệ trẻ một cách toàn diện, hài hòa. Bốn thành phần đó liên quan mật thiết với nhau và dựa vào nhau. Các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng nội dung dạy học và các phương hướng hoàn thiện nội dung dạy học. Các nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng nội dung dạy học.
Để thực hiện được mục đích GD nói chung, các nhiệm vụ dạy học nói riêng, NDDH cần được xây dựng theo hướng cơ bản là: “Nâng cao chất lượng toàn diện của nội dung GD, hiện đại hóa chương trình học tập khoa học và kỹ thuật, mở rộng kiến thức quản lý kinh tế, tăng cường GD chủ nghĩa Mac – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng và đạo đức cách mạng, bồi dưỡng kỹ năng lao động sản xuất và năng lực nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, coi trọng đúng mức GD thẩm mỹ, thể dục thể thao và luyện tập quân sự” [6]. Với phương hướng chung đó, NDDH cần xây dựng trên những nguyên tắc sau đây: - Phải phù hợp với mục tiêu ĐT nói chung, với mục tiêu từng môn học nói riêng. - Phải đảm bảo tính toàn diện, cân đối của giáo dục, trong đó phải đặt việc GD tư tưởng, chính trị, đạo đức lên hàng đầu. - Phải kết hợp chặt chẽ GD phổ thông, ĐT kỹ thuật tổng hợp, công tác hướng nghiệp và dạy nghề.
- Phải đảm bảo học đi đôi với hành; học tập kết hợp với lao động sản xuất, và thực nghiệm khoa học, với hoạt động chính trị; hoạt động nội khóa kết hợp với hoạt động ngoại khóa. - Phải đảm bảo tính thống nhất chung cho cả nước, đồng thời phải tính đến đặc điểm từng vùng, từng địa phương; phải phù hợp với đặc điểm lứa tổi và 18 giới tính người học; phải thích hợp với điều kiện giảng dạy và học tập của nhà trường. Các nguyên tắc trên đây liên quan mật thiết với nhau, thậm chí thâm nhập vào nhau. Do đó, trong quá trình thực hiện, chúng ta phải vận dụng chúng với quan điểm phức hợp.
Các phương hướng hoàn hiện nội dung dạy học. Căn cứ vào phương hướng chung và các nguyên tắc chỉ đạo nói trên, đặc biệt là dưới ánh sáng của phương hướng và nội dung cải cách GD, trong điều kiện tiến bộ xã hội và điều kiện tiến bộ khoa học – kỹ thuật, chúng ta nêu lên những phương hướng nhằm hoàn thiện NDDH [5]: - Làm cho NDDH thật sự cơ bản, hiện đại, Việt Nam. - Tăng cường hơn nữa mối liên hệ giữa dạy học với đời sống, với lao động sản xuất, với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.