CHƯƠNG 1 DOI MỚI CÔNG NGHỆ, VAI TRO CUA CÔNG CỤ HO TRỢ VE TÀI CHÍNH CUA NHÀ NƯỚC NHAM THÚC DAY ĐMCN VÀ KINH NGHIEM MOT SO QUOC GIA TRONG LINH VUC NAY 1. Công nghệ Ngày nay với sự phát triển không ngừng của khoa học, các quy luật tự nhiên, xã hội, bản chất sự vật ngày càng được làm sáng tỏ. Sự thông hiểu thế giới tự nhiên, xã hội tạo tiền đề cho hoạt động sản xuất, quản lý đi vào chuyên môn và chuẩn hóa trong một quy trình, như một công nghệ. Khái niệm công nghệ Khái niệm công nghệ cũng ngày càng được mở rộng qua nhiều lĩnh vực khác như công nghệ du lịch, công nghệ ngân hàng,.
Suy cho cùng, các mở rộng này tạo nên các khái niệm công nghệ vừa có điểm chung, vừa có cái riêng. Gần đây, đã có nhiều tổ chức Quốc tế về KH&CN có gắng đưa ra một định nghĩa công nghệ có thê dung hòa các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hòa nhập của các quốc gia trong từng khu vực và phạm vi toàn cầu. Ngân hàng Thế giới 1985: Là phương pháp chuyển hóa các nguồn thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố (1) thông tin về phương pháp, (2) phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp dé thực hiện việc chuyên hóa (3) sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thé nào và tại sao? Theo Tổ chức phát triển công nghệ liên hợp quốc (UNIDO) thì: Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp. Theo Uy ban kinh tế xã hội Chau A - Thái Bình Dương (ESCAP) thi: Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng dé chế biến vật liệu va thông tin va sau đó ESCAP mở rộng thêm: Công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch vụ quản lý, thông tin.
Theo Vũ Cao Dam (1997), Công nghệ là quá trình sử dụng hệ thống các thành phan (kỹ thuật, con người, thông tin, tô chức) chế biến vật chất, thông tin thành sản phẩm. 15 Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, đã đưa ra định nghĩa khái quát: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm. Luật chuyển giao công nghệ năm 2006: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết, kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi nguồn lực thành sản phâm. * Điểm chung các định nghĩa trên điều xem Công nghệ có bản chất là tri thức cần có dé biến đôi nguồn lực thành sản pham theo một quy trình nhất định.
Khái niệm đổi mới công nghệ Tuy theo mục dich sử dụng va tác gia mà khái niệm DMCN có ý nghĩa khác nhau. Nhưng nhìn chung theo các tác giả này, có thể có một số các định nghĩa chung nhất về ĐMCN như sau: Theo Freeman (1982), đổi mới là các hoạt động thiết kế kỹ thuật, sản xuất chế tác, quản lý và thương mại liên quan đến việc đưa ra thị trường một sản phẩm mới (hoặc được cải tiến) hoặc là việc sử dụng mang tính thương mại lần đầu tiên của một quy trình hoặc thiết bị mới (hoặc được cải tiễn). Theo một định nghĩa đơn giản hơn nhưng cũng rất bao quát, đôi mới theo nghĩa rộng nhất có thê bao gồm các công nghệ mới và phương thức mới thực hiện công việc (Porter, I 990). Do đó, ĐMCN có thê xảy ra trong một quy trình hay trong một sản phâm.
Như vậy đổi mới công nghệ quy trình (process innovation) là những đổi mới liên quan đến quy trình công nghệ của sản xuất sản phẩm và dich vụ và DMCN sản phẩm (product innovation) là những đôi mới liên quan đến việc đưa ra các sản phẩm mới hoặc dịch vụ mới. Tuỳ theo loại hình sản phẩm, ngành công nghiệp hoặc dịch vụ, giai đoạn của đổi mới mà DMCN quy trình hay DMCN sản phẩm sẽ có những mức độ đổi mới khác nhau và cũng liên quan đến nhau. Thông thường, khi mức độ đổi mới sản phẩm giảm dan thi mức độ đổi mới của quy trình sẽ tăng dần. Điểm quan trọng nhất cần nhắn mạnh ở đây là các đổi mới là một quá trình tác động, dù đó là đổi mới quy trình hay sản phẩm (Coombs et al,1987).
Nhưng các thay đổi về mặt quy trình thường khó ghi nhận lại, khó nhìn thấy và vì thế khó bắt chước hơn (Rosenberg, 1982). Trong nhiều nghiên cứu khác nhau, một kết luận có thể rút ra được là đổi mới là một quá trình quản lý. Khác với sáng chế, đổi mới có những đặc thd của nó và liên quan đến giai đoạn đưa sản phẩm ra được thị trường (Bryson, 1994). Hơn thế nữa, có tác giả còn đi xa hơn và cho rằng vì 16 vai trò đóng góp của người sử dụng vào quá trình đổi mới rất quan trọng, các có găng áp dụng dé tạo hình thái cho hệ thống công nghệ cũng là những thành phần của hoạt động đổi mới (Fleek,1992).
Đổi mới thường được hiéu là một thứ gì đó mới áp dụng vào sản xuất, phân phối hay tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ. ĐMCN được định nghĩa như một sản phẩm mới (đôi mới sản phẩm) và một máy móc mới (đôi mới quy trình) hay cải tiến các sản phẩm hoặc quy trình đang có thông qua việc thay đổi về công nghệ do các nhà đôi mới tạo ra nhằm vào mục đích thương mại (Beije, 1998). Hai tác giả Gregory and Botha (2003) cho rang hoạt động đổi mới có thé xảy ra trong quá trình cải tiến bên trong nhằm tăng năng suất, phát triển thị trường, sản phẩm hoặc dịch vụ mới, hay đổi mới công nghệ dé tạo ra công nghệ mới hoặc có thé là sự kết hợp của tat cả các hoạt động trên. Trong nhiều trường hợp thì hoạt động đổi mới của một công ty có thể coi là hoạt động R&D, tùy vào từng loại hình công việc cụ thẻ.
* Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa từ tài liệu hướng dẫn của tổ chức OECD (Oslo Manual, 1996) trong đó giải thích răng DMCN cho một sản phâm hoặc một chu trình có thé chia thành các hoạt động sau: R&D, thu nạp công nghệ, trang bị máy móc và thiết kế công nghiệp, kiêu dáng công nghiệp, phát triển sản xuất, hoạt động marketing cho sản phẩm mới hoặc sản phẩm cải tiễn và hoạt động đảo tạo. Theo Vũ Cao Đàm (Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo dục, Tr. 40) nghiên cứu khoa học chia làm 3 loại: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai, gọi chung là nghiên cứu và triển khai, viết tắt tiếng Anh là R&D (tuy viết tắt là D nhưng thực ra thuật ngữ này có tên gọi đầy đủ là Technological Experimental Development, gọi tắt là Technological Development hoặc là Development) 17 Hình 1.1: Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu Hoat ciÔng R&D 1. Nghién Cứu Neghién cứui co cơ ban ban thuiân tty TNghiên cứu co 2.
Nghién citru bản dinh hudg ung dung Tao vat mau (Prototype) 3. Trién khai Tao quy trinh thực nghiém s/x vat mau San xudat thứ Série N° O 30 (Nguôn: Vũ cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Giáo duc, Tr. 30) Phát triển công nghệ theo (Vũ Cao Đàm, 2003) được hiểu là sự “mở mang công nghệ” theo cả chiêu rộng lần chiêu sâu: - Mở mang công nghệ theo chiều sâu, chính là sự nâng cấp công nghệ (Upgrading) từ trình độ thấp lên một trình độ cao hơn. Nội dung nay thuộc phạm trù của chính sách đôi mới (innovation policy).
Đó là sự đổi mới công nghệ (DMCN) dựa trên kết quả R&D các công nghệ của bản thân doanh nghiệp hoặc ký hợp đồng chuyên giao công nghệ để nhận một công nghệ có trình độ cao hơn từ các doanh nghiệp khác (chuyên giao ngang), hoặc nhận một công nghệ mới từ kết quả pilot của các tô chức R&D (chuyển giao dọc), hoặc thậm chí ký hợp đồng CGCN từ nước ngoài (bao gồm cả chuyền giao dọc và chuyên giao ngang). - Mở mang công nghệ theo chiều rộng, chính là sự nhân rộng từ một dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp thành hai, ba hoặc nhiều dây chuyền công nghệ có cùng chức năng và cùng trình độ như dây chuyền công nghệ ban đầu. Nội dung này thuộc phạm trù của chính sách đối với sản xuất, nằm ngoài mối quan tâm của hệ thống KH&CN của một số quốc gia, đặc biệt là ở các quốc gia Châu Âu và Bắc Mỹ. Đầu tư tài chính cho doi mới công nghệ ĐMCN Đầu tư tài chính cho DMCN là việc bỏ vốn dé thay đổi, cải tiến công nghệ góp phan cải thiện chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng năng suất, chất lượng và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Có ba hình thức chính về đầu tư DMCN: - Đầu tư cho nghiên cứu và triển khai là đầu tư mang tinh dai han, hướng tới tương lai đồng thời kết quả thì chưa thể xác định trước và mang tính rủi ro cao nhưng cũng có thể đem lại lợi nhuận lớn. Các công ty lớn, có tiềm lực về tài chính thường hay đầu tư cho hoạt động R&D; - Đầu tư cho máy móc thiết bi hay công nghệ sản phẩm mới là những đầu tư ở giai đoạn tiếp theo khi việc sản xuất thử nghiệm các kết quả nghiên cứu và triển khai đã thành công hoặc trong quá trình chuyên giao “phần cứng” của chuyền giao công nghệ; - Đầu tư cho việc đào tạo con người dé sử dung các công nghệ mới thường là những đầu tư đi kèm với hai loại đầu tư trên. Máy móc thiết bị bản thân tự nó không thể tạo ra sản phẩm nếu không có sự điều khiển của con người. Bản thân công nghệ, kỹ thuật mới đã đòi hỏi những kỹ năng mới vì vậy nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân lành nghề làm chủ và vận hành các công nghệ và kỹ thuật ngày càng rõ nét hơn.
Vai trò của công cụ hỗ trợ về tài chính của nhà nước trong việc thúc day DMCN 1. Sự cần thiết SDCCHT về tài chính của nhà nước cho hoạt động ĐMCN Chính sách đổi mới theo quan điểm của các nước OECD (OECD, 2005) đó là sự mở rộng của các chính sách R&D. Bởi vậy chính sách đổi mới thường liên quan đến nghiên cứu và sự phát triển công nghệ.