Chương 1: Vị trí, vai trò của cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ở Việt Nam. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 3: Đổi mới cơ chế kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ở Việt Nam. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CƠ CHẾ KIỂM TRA TÍNH HỢP HIẾN, HỢP PHÁP CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA BỘ TRƢỞNG, THỦ TRƢỞNG CƠ QUAN NGANG BỘ Ở VIỆT NAM 1.
BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT- MỘT HÌNH THỨC CƠ BẢN THỰC HIỆN QUYỀN LỰC CỦA BỘ TRƢỞNG, THỦ TRƢỞNG CƠ QUAN NGANG BỘ Ở VIỆT NAM Từ bỏ cơ chế quản lý xã hội bằng chỉ tiêu, mệnh lệnh, tiến trình đổi mới ở Việt Nam đã tiến đến việc thực hiện quản trị xã hội trên cơ sở pháp luật. Điều 12 của Hiến pháp đổi mới năm 1992 đã quy định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật ". Chủ trương quản lý xã hội bằng pháp luật này dẫn đến xu hướng các cơ quan công quyền được trao quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện quyền lực của mình thay cho việc thực hiện quyền lực công bằng mệnh lệnh hay khẩu dụ. Các cơ quan nhà nước từ Quốc hội cho đến các quan chức hành pháp ở Việt Nam đều được pháp luật quy định cho quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.
Bộ trưởng, Thủ tưởng cơ quan ngang bộ cũng được quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện nhiệm vụ của mình. Văn bản quy phạm pháp luật hiện nay được quy định ở một số văn bản mà cụ thể và chi tiết nhất là trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp luật tiến bộ nhất được các Nhà nước hiện đại sử dụng chủ yếu và nó có những đặc điểm chính yếu sau: - Gắn liền với Nhà nước, nghĩa là do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Đây cũng chính là một trong những thuộc tính quan trọng của pháp luật nói chung.
Pháp luật quy định cho một số cơ quan, viên chức nhà nước 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhất định và những cơ quan, viên chức đó cũng chỉ được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về những vấn đề phù hợp với thẩm quyền (chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn) của mình do luật định. Trong một số trường hợp, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước với cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội. Tuy vậy, xét đến cùng thì văn bản quy phạm pháp luật luôn gắn liền với Nhà nước, bởi chỉ riêng cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội thì không được quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có các biện pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc.
- Có chứa quy phạm pháp luật (quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung), là những quy tắc xử sự được ban hành không phải cho một cho một trường hợp cụ thể, những tổ chức hay cá nhân cụ thể, mà cho tất cả các trường hợp và đối với tất cả những tổ chức hay cá nhân phải thực hiện khi gặp phải những tình huống mà pháp luật đã dự liệu. Do vậy, văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện nhiều lần trong đời sống khi xảy ra tình huống mà pháp luật đã dự liệu. Đây là đặc điểm thể hiện sự khác biệt giữa văn bản quy phạm pháp luật với các văn bản khác của Nhà nước như văn bản áp dụng pháp luật, văn bản giao dịch hành chính… là các văn bản không chứa quy phạm pháp luật nên không phải là văn bản quy phạm pháp luật. - Ngoài hai đặc điểm cơ bản trên thì pháp luật của các nhà nước hiện đại còn quy định cả thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức, nội dung của văn bản quy phạm pháp luật được phép ban hành cho các tổ chức và cá nhân (các chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật).
Tuy không phải là dấu hiệu quan trọng, dấu hiệu bắt buộc của văn bản quy phạm pháp luật, nhưng quy định về các vấn đề trên sẽ giúp cho việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có trật tự, ổn định. Các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức của văn bản quy phạm pháp luật tạo tiền đề pháp lý cho 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng cao, đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý, tính thống nhất của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về nội dung cũng như về hình thức. Tuy nhiên, thực tế của pháp luật Việt Nam trong thời gian qua có những quy định chưa thống nhất trong cách hiểu về văn bản quy phạm pháp luật. Trước hết phải nói rằng, nếu không có Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thì nhiều người dân Việt Nam sẽ không biết thế nào là văn bản quy phạm pháp luật.
Bởi trong Hiến pháp và các luật tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam chỉ nói tới tên các loại văn bản mà các cơ quan nhà nước Việt Nam được quyền ban hành, mà không có sự phân biệt đâu là văn bản quy phạm pháp luật đâu không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Các điều 84, 88, 91, 103… của Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam và trong các Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà Nhà nước Việt Nam đã ban hành cũng có sự không thống nhất trong việc xác định văn bản quy phạm pháp luật. Chẳng hạn, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 xác định: "Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa" [31]. Trong định nghĩa này còn có tập hợp từ "nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa", chúng tôi cho rằng, việc quy định mục đích điều chỉnh như trên của văn bản quy phạm pháp luật là không cần thiết.
Trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thì xác định: Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân là văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa [35]. Cần chú ý là trong một số trường hợp, hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật do địa phương ban hành có thể vượt ra khỏi phạm vi địa phương, và hiệu lực của văn bản đâu chỉ có giới hạn về không gian, do vậy, cũng không nên quy định "có hiệu lực trong phạm vi địa phương", bởi phần nói về hiệu lực của văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trong Luật đã quy định không chỉ về không gian (lãnh thổ) mà còn nói cả về thời gian và về đối tượng tác động. Trong Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì văn bản quy phạm pháp luật lại được xác định như sau: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội [36]. Như vậy, đã không có sự thống nhất khi xác định văn bản quy phạm pháp luật, trong mỗi luật lại đưa vào những dấu hiệu phụ khác nhau khi định nghĩa văn bản quy phạm pháp luật.
Cũng trong Khoản 2 Điều 1 Luật trên còn quy định: Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật [36]. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với quy định này người ta có quyền hiểu rằng, những văn bản do cơ quan nhà nước ban hành không đúng thẩm quyền, không đúng hình thức, không đúng trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Đây là một sự phủ định quá đáng, bởi trong thực tế, có rất nhiều văn bản được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành có chứa quy phạm pháp luật, song ở mức độ nào đó chưa đúng về trình tự, thủ tục, nhưng vẫn được tôn trọng và thực hiện, song lại bị Luật cho là "không phải là văn bản quy phạm pháp luật" [19]. Mặc dù có sự chưa thống nhất trong các quy định thì chúng ta cũng có thể đưa ra cách hiểu về Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ như sau: Văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là quyết định pháp luật có giá trị áp dụng chung do Bộ trưởng, Thủ tưởng cơ quan ngang Bộ ban hành.
Loại văn bản này có những đặc điểm chung của văn bản quy phạm pháp luật và có những đặc điểm riêng của một văn bản lập quy do cơ quan hành pháp ban hành.