Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Lí luận ngôn ngữ (mã số: 5.08) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương, được hoàn thành năm 2003 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Thiện Giáp và PGS. Nguyễn Hữu Đạt, mang tên: "Đối chiếu ngôn ngữ phóng sự trong báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt".
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, phóng sự báo in là một thể loại báo chí có cấu trúc phức tạp, nằm ở điểm giao thoa giữa tính chất thông tấn và tính chất văn học. Thể loại này vừa thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin thời sự, vừa định hướng nhận thức của công chúng thông qua việc thể hiện dấu ấn chủ quan của người viết. Tuy nhiên, tình hình nghiên cứu diễn ngôn báo chí nói chung và diễn ngôn phóng sự nói riêng tại Việt Nam ở thời điểm thực hiện đề tài còn rất khiêm tốn. Đa số các công trình trước đó chỉ tiếp cận phóng sự dưới góc độ nghiệp vụ báo chí hoặc phong cách học văn học truyền thống, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện cấu trúc diễn ngôn và cơ chế tạo nghĩa của phóng sự báo in trên cơ sở đối chiếu hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình khác nhau (tiếng Anh – biến tố phân tích tính và tiếng Việt – phân tích tính).
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xác định các phương thức ngôn ngữ được sử dụng để hiện thực hóa các chức năng ngữ nghĩa tương đương trong ngôn bản phóng sự báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó làm rõ những nét tương đồng và khác biệt về cấu trúc diễn ngôn cũng như cơ chế vận hành của thể loại này trong hai ngôn ngữ.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm:
- Thông tin trong cú của ngôn bản phóng sự được trình bày theo các phương thức nào? (Chức năng tư tưởng – nhằm đạt mục đích cung cấp thông tin);
- Người viết thể hiện thái độ của mình như thế nào để thông qua ngôn bản phóng sự đạt được mục đích giao tiếp đặt ra? (Chức năng liên nhân – nhằm định hướng suy nghĩ);
- Các thông tin chính được phân phối và liên kết với nhau như thế nào để tạo thông điệp thống nhất của toàn ngôn bản phóng sự? (Chức năng văn bản – tạo ngôn bản mang tính nghệ thuật).
Đối tượng nghiên cứu của luận án là diễn ngôn phóng sự báo in hiện đại. Phạm vi tư liệu khảo sát gồm 200 ngôn bản phóng sự (100 bài tiếng Anh và 100 bài tiếng Việt) được tuyển chọn từ các nhật báo, tuần báo và tạp chí có uy tín, bao quát các chủ đề kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội. Về mặt thời gian, tư liệu được giới hạn trong các ấn phẩm phát hành sau năm 1990. Về mặt không gian địa lý, ngữ liệu tiếng Anh không chỉ giới hạn ở các ấn phẩm xuất bản tại Anh mà mở rộng sang Mỹ, Úc và các nước khu vực châu Á.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại hai nhóm quan điểm chính về thể loại phóng sự từ các nhà nghiên cứu phương Tây và Việt Nam:
Về phía các tác giả phương Tây, thể loại phóng sự (reportage / report) được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ thông tin sự kiện. Các từ điển và học giả như Từ điển Oép-xtơ, Mark Twain, Concise Oxford Dictionary, Oxford Advanced Learner’s Encyclopedic Dictionary, Collins English Dictionary 21st Century, Fischer quan niệm phóng sự là việc tường thuật, miêu tả sự kiện qua sự trải nghiệm trực tiếp của người viết. Johnson và Julian xem phóng sự là bài tường thuật được xử lí theo phương thức văn học; Randall nhận định báo chí mang tính văn học cao dù bản chất không đồng nhất với văn học hư cấu. Nhìn chung, chỉ có 2/11 tác giả phương Tây được khảo sát nhấn mạnh yếu tố văn học trong phóng sự, trọng tâm chủ yếu đặt vào việc xử lý chất liệu thực tế và tính chuẩn xác của thông tin.
Ngược lại, các nhà nghiên cứu Việt Nam dành sự quan tâm lớn cho phẩm chất văn học của phóng sự (11/12 tác giả được khảo sát khẳng định điều này). Lê Bá Hán và Nguyễn Xuân Nam xếp phóng sự vào thể loại kí văn học. Đức Dũng phân định hệ thống thể loại báo chí thành ba nhóm: thông tấn báo chí, chính luận báo chí và kí báo chí (trong đó phóng sự thuộc nhóm kí báo chí với đặc trưng giàu chất văn học và đề cao vai trò của nhân vật trần thuật). Tạ Ngọc Tấn chia tác phẩm báo chí thành ba loại (thông tin, chính luận, chính luận – nghệ thuật) và xếp phóng sự vào nhóm tác phẩm thông tin có phong cách nghệ thuật. Các tác giả khác như Hoàng Minh Phương, Trần Quang, Nguyễn Thị Thoa, Hữu Đạt, Hà Minh Đức đều khẳng định phóng sự là thể loại đứng giữa văn học và báo chí, vừa phản ánh sự kiện khách quan vừa biểu đạt cảm xúc, suy nghĩ chủ quan của người viết.
Về phân tích diễn ngôn và giao tiếp báo chí, luận án kế thừa các luận điểm của Jakobson về giao tiếp gián tiếp một chiều; Giroud và Voyenne về quá trình suy giải thông điệp; Dương Văn Quảng về mô hình giao tiếp báo chí 4 thành tố (nhà báo, sự kiện, diễn ngôn, người nhận tin); Nguyễn Đức Tồn về đặc trưng tư duy duy lí của người Anh và tư duy duy tình ("hướng tới con người") của người Việt; Kaplan về sơ đồ các kiểu tư duy; cùng các nghiên cứu bước đầu về diễn ngôn báo chí tại Việt Nam của Nguyễn Hòa, Đinh Trọng Lạc, Phan Quang, Nguyễn Thị Việt Thanh.
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: Vận dụng một cách hệ thống khung lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống và phân tích diễn ngôn để khảo sát toàn bộ một đơn vị giao tiếp hoàn chỉnh là bài phóng sự báo in; phân tích và đối chiếu đồng thời cả ba siêu chức năng ngữ nghĩa (tư tưởng, liên nhân, văn bản) trên ngữ liệu song ngữ Anh – Việt nhằm giải thích mối liên hệ giữa các hiện tượng ngôn ngữ bề mặt với cơ chế tư duy và bối cảnh văn hóa – xã hội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday và các lí thuyết phân tích diễn ngôn hiện đại:
- Khung lý thuyết của Halliday: Xem xét cú ngôn ngữ tương ứng với ba siêu chức năng (metafunctions):
- Chức năng tư tưởng (Ideational function): Biểu đạt kinh nghiệm của con người về thế giới khách quan và thế giới nội tâm (tiểu chức năng kinh nghiệm) cùng các mối quan hệ logic giữa các mệnh đề (tiểu chức năng logic). Hệ thống chuyển tác (transitivity) được phân chia thành 6 kiểu quá trình: vật chất (material), tinh thần (mental), quan hệ (relational), hành vi (behavioural), phát ngôn (verbal), và hiện hữu (existential).
- Chức năng liên nhân (Interpersonal function): Thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội, thể hiện vai trò giao tiếp thông qua hệ thống Thức (Mood), Tình thái (Modality), Ẩn dụ thức (Mood metaphor), Ẩn dụ tình thái (Modality metaphor), cùng các thành phần phụ chú, bình luận ngoài cú.
- Chức năng văn bản (Textual function): Tạo lập tính liên kết và mạch lạc cho ngôn bản, hiện thực hóa qua cấu trúc Đề – Thuyết (Theme – Rheme), Đề ngữ đa (Multiple Theme), và các phương thức liên kết văn bản của Halliday & Hasan.
- Các khái niệm phân tích diễn ngôn bổ trợ: Khái niệm ngữ cảnh tình huống và ngữ vực (Register gồm Trường – Field, Phương thức – Mode, Không khí – Tenor); cấu trúc thông tin (thông tin Cũ – Mới) của Brown và Yule; mô hình xử lý diễn ngôn từ trên xuống (top-down) và từ dưới lên (bottom-up); cơ chế suy luận và quan hệ giữa cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của Fromkin.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án thực hiện theo con đường diễn dịch, phối hợp phương pháp phân tích diễn ngôn theo đường hướng chức năng với phương pháp so sánh đối chiếu. Ngôn bản được chia thành các mảng theo chức năng ngữ nghĩa để phân tích chi tiết, sau đó tiến hành đối chiếu hai ngôn ngữ. Phương pháp thống kê định lượng được sử dụng để khảo sát tần số xuất hiện của các quá trình chuyển tác, phương thức tình thái, động từ dẫn, cấu trúc đề ngữ và phương thức liên kết trên 200 mẫu văn bản, làm cơ sở thực nghiệm cho các phân tích định tính chuyên sâu.
Nguồn tư liệu thực tế gồm 100 bài phóng sự báo in tiếng Anh (từ các báo, tạp chí phát hành tại Anh, Mỹ, Úc, châu Á) và 100 bài phóng sự báo in tiếng Việt được phát hành sau năm 1990 thuộc các chủ đề kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những cơ sở lí luận của luận án
Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết cho toàn bộ công trình. Tác giả phân tích vị trí của phóng sự trong hệ thống thể loại báo chí, xác định phóng sự là tác phẩm thông tin nhưng có sự tham gia trực tiếp của "cái tôi tác giả" với tư cách nhân chứng và người định hướng nhận thức.
Về cấu trúc hình thức, tác giả đối chiếu 11 mô hình kết cấu bài báo của Đức Dũng và khẳng định cấu trúc "đồng hồ cát" là dạng thức phổ biến nhất của phóng sự báo in, cho phép kết hợp việc cung cấp thông tin thời sự ở phần đầu với việc dẫn dắt người đọc đến chi tiết cốt lõi và thông điệp tư tưởng ở phần kết.
Chương này cũng làm rõ bản chất giao tiếp gián tiếp một chiều trong báo chí dựa trên mô hình của Dương Văn Quảng; xác lập đơn vị khảo sát không chỉ dừng lại ở cấp độ cú mà mở rộng đến các đơn vị dưới cú (ngữ) và trên cú (đoạn, ngôn bản, liên ngôn bản); đồng thời xác định ba câu hỏi nghiên cứu định hướng cho ba chương khảo sát tiếp theo.
Chương 2: Các phương thức thể hiện chức năng tư tưởng trong phóng sự báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 2 tập trung giải quyết câu hỏi: "Ai làm gì, nói gì với ai trong hoàn cảnh nào?" thông qua khảo sát chức năng tư tưởng kinh nghiệm và tư tưởng logic.
Về chức năng kinh nghiệm, luận án phân tích sự phân bố của 6 kiểu quá trình chuyển tác trên ngữ liệu 100 bài báo mỗi thứ tiếng:
| Thể loại & Ngôn ngữ |
Vật chất (%) |
Quan hệ (%) |
Phát ngôn (%) |
Tinh thần (%) |
Hành vi (%) |
Hiện hữu (%) |
| Tin tiếng Anh |
41,0 |
10,0 |
26,0 |
8,0 |
14,0 |
1,0 |
| Phóng sự tiếng Anh |
36,0 |
30,0 |
18,0 |
8,0 |
6,0 |
2,0 |
| Tin tiếng Việt |
66,0 |
3,0 |
12,5 |
3,5 |
8,0 |
7,0 |
| Phóng sự tiếng Việt |
32,0 |
28,0 |
14,0 |
10,0 |
9,0 |
7,0 |
Số liệu cho thấy trong cả hai ngôn ngữ, thể loại phóng sự có sự sụt giảm đáng kể của quá trình vật chất và sự gia tăng mạnh mẽ của quá trình quan hệ (từ 10% lên 30% ở tiếng Anh; từ 3% lên 28% ở tiếng Việt) so với thể loại tin. Điều này phản ánh đặc trưng của phóng sự: sự việc không đơn thuần được tường thuật mà được chuyển hóa thành đối tượng nhận thức và bình luận của người viết.
Về khả năng mở rộng nghĩa cho danh ngữ và cú: Phóng sự tiếng Anh tận dụng tối đa định ngữ trước thông qua việc cấu tạo từ ghép lâm thời (thống kê được 66 dạng kết hợp, gồm 16 dạng danh từ ghép, 40 dạng tính từ ghép hai thành tố và 20 dạng tính từ ghép ba thành tố), giúp nén thông tin và tiết kiệm dung lượng mặt báo. Ngược lại, phóng sự tiếng Việt chủ yếu mở rộng nghĩa thông qua định ngữ sau (thành phần đồng chức năng, cú bị bao) do định ngữ trước trong tiếng Việt bị hạn chế về mặt cấu trúc. Phương thức chuyển tác chu cảnh (đưa trạng ngữ chỉ phương thức, không gian, thời gian lên đầu câu) được sử dụng phổ biến trong cả hai thứ tiếng để làm nổi bật thông tin.
Về chức năng logic và việc sử dụng động từ dẫn trong trích dẫn:
| Thể loại động từ dẫn |
Phóng sự tiếng Anh (%) |
Phóng sự tiếng Việt (%) |
| 1. Động từ "say / nói" |
42,0 |
3,0 |
| 2. Động từ "tell / bảo" |
7,5 |
8,0 |
| 3. Động từ "ask / hỏi" |
4,0 |
6,0 |
| 4. Động từ "say / nói" kết hợp yếu tố chu cảnh |
16,5 |
17,5 |
| 5. Động từ phát ngôn có nét nghĩa biểu niệm |
2,5 |
8,5 |
| 6. Động từ không mang nghĩa nói năng |
0,4 |
10,0 |
| 7. Giới ngữ "according to / theo..." |
4,0 |
2,0 |
Sự khác biệt nổi bật là phóng sự tiếng Anh sử dụng động từ trung tính "say" với tỉ lệ áp đảo (42,0%) nhằm duy trì tính khách quan, trong khi phóng sự tiếng Việt sử dụng đa dạng các động từ phát ngôn có nghĩa biểu niệm (8,5%) và động từ phi ngôn thoại (10,0%) kết hợp miêu tả chu cảnh để ngầm định hướng thái độ tiếp nhận của người đọc.
Chương 3: Các phương thức thể hiện chức năng liên nhân trong phóng sự báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 3 phân tích cách thức tác giả thiết lập sự tương tác với độc giả và thể hiện lập trường thông qua ẩn dụ thức, ẩn dụ tình thái, yếu tố bình luận và biểu thức quy chiếu.
Về ẩn dụ thức, cả hai ngôn ngữ đều sử dụng câu hỏi tu từ (câu hỏi không chính danh) nhằm khơi gợi suy nghĩ và truyền tải quan điểm một cách gián tiếp.
Về phương thức biểu hiện tính tình thái, tác giả phân loại thành hiện thực hóa có tính tương thích và hiện thực hóa nhờ ẩn dụ (khách thể tường minh và chủ thể tường minh):
| Phương thức thể hiện tình thái |
Phóng sự tiếng Anh (%) |
Phóng sự tiếng Việt (%) |
| I. Hiện thực hoá có tính tương thích |
33,0 |
27,0 |
| - Trạng từ tình thái thức / Quán ngữ đầu câu |
3,0 |
14,5 |
| - Thuộc vị ngữ (Trợ động từ tình thái / Hư từ) |
19,5 |
7,0 |
| - Vị ngữ (Tính từ, tiểu từ tình thái) |
10,0 |
5,5 |
| II. Hiện thực hoá nhờ ẩn dụ |
66,0 |
73,0 |
| 1. Khách thể tường minh |
46,5 |
31,5 |
| - Cấu trúc chủ ngữ hình thức (It/There) / Quán ngữ siêu đề |
12,5 |
20,0 |
| - Cú phóng chiếu |
34,0 |
11,5 |
| 2. Chủ thể tường minh |
20,0 |
41,5 |
| - Chủ thể ngôi thứ nhất tường minh |
11,3 |
8,5 |
| - Chủ thể ngôi thứ nhất ẩn, giản lược |
1,3 |
21,5 |
| - Chủ thể ngôi thứ hai |
7,5 |
11,5 |
Phóng sự tiếng Anh có xu hướng sử dụng ẩn dụ tình thái dạng khách thể tường minh (46,5%), đặc biệt là cú phóng chiếu có chủ ngữ hình thức vô nhân xưng (It is admitted that...), nhằm tạo tính khách quan tối đa cho thông tin. Ngược lại, phóng sự tiếng Việt chiếm ưu thế ở dạng chủ thể tường minh (41,5%), trong đó chủ thể ngôi thứ nhất ở dạng ẩn hoặc giản lược chiếm tới 21,5% cùng với chủ thể ngôi thứ hai (11,5%), giúp kéo người đọc vào quá trình phán đoán một cách khéo léo.
Về yếu tố bình luận và biểu thức quy chiếu: Cú và ngữ xen (phụ chú ngữ) xuất hiện ở khoảng 15 vị trí cấu trúc khác nhau trong cú với 20 kiểu biểu đạt (như giải thích, bình luận, chi tiết hóa), mang đậm chất khẩu ngữ và tăng tính văn học. Tác giả phóng sự tiếng Việt đặc biệt ưa chuộng việc dùng các biểu thức quy chiếu liên nhân mang sắc thái biểu cảm để miêu tả nhân vật, trong khi tác giả tiếng Anh hầu như tránh can thiệp trực tiếp vào cách định danh này.
Chương 4: Các phương thức thể hiện chức năng văn bản trong phóng sự báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 4 khảo sát cách thức tổ chức thông điệp qua cấu trúc Đề – Thuyết, sự phân phối thông tin toàn văn bản và các phương thức liên kết.
Về cấu trúc Đề ngữ trong cú:
- Đề ngữ tư tưởng (chủ đề): Chiếm tỉ lệ lớn nhất ở cả hai ngôn ngữ (tiếng Anh: 74,4%; tiếng Việt: 85,4%), trong đó các chu tố làm đề ngữ đánh dấu chiếm tỉ lệ đáng kể.
- Đề ngữ văn bản: Tiếng Anh đạt 22,0%, tiếng Việt đạt 13,6%.
- Đề ngữ liên nhân: Tiếng Anh đạt 3,6%, tiếng Việt đạt 1,0%. Hiện tượng đề ngữ đa (kết hợp hai hoặc ba loại đề) xuất hiện nhiều trong cả hai ngôn bản để đáp ứng yêu cầu vừa tạo nghĩa nội bộ vừa liên kết liên cú.
Về phân phối thông tin: Tiêu đề dạng danh ngữ chiếm khoảng 50% ở cả hai ngôn ngữ thể hiện xu hướng khái quát hóa. Lời dẫn trong phóng sự tiếng Anh thường ngắn gọn (1–2 câu) và đơn mục đích; trong khi lời dẫn tiếng Việt có dung lượng dài, tích hợp nhiều chức năng. Về phần phát triển, phóng sự tiếng Anh phân phối thông tin xen kẽ theo mô hình "làn sóng" với các lời bình xen giữa đóng vai trò tiểu thông điệp; trong khi 85% phóng sự tiếng Việt được phân đoạn rành mạch với các tiêu đề bộ phận cho từng phần. Lời kết có thể ở dạng đóng (tái khẳng định) hoặc mở (kết thúc bằng câu hỏi nghi vấn ẩn dụ thức).
Về các phương thức liên kết văn bản:
| Phương thức liên kết |
Phóng sự tiếng Anh (%) |
Phóng sự tiếng Việt (%) |
| 1. Quy chiếu (thế đại từ) |
17,1 |
16,3 |
| 2. Tỉnh lược |
3,7 |
34,1 |
| 3. Lặp từ vựng |
16,7 |
15,5 |
| 4. Thế đồng nghĩa |
9,0 |
4,2 |
| 5. Đồng định vị (liên tưởng) |
19,3 |
11,8 |
| 6. Đối |
2,2 |
1,6 |
| 7. Tuyến tính |
12,2 |
3,3 |
| 8. Liên hợp (nối logic) |
19,3 |
12,8 |
Số liệu phản ánh sự khác biệt căn bản: Phóng sự tiếng Anh sử dụng cân đối và đa dạng các phương thức liên kết từ vựng và logic (liên hợp 19,3%, đồng định vị 19,3%, quy chiếu 17,1%, lặp 16,7%, tuyến tính 12,2%) để bảo đảm tính rõ ràng, mạch lạc; trong khi phóng sự tiếng Việt có sự phân cực rõ nét với tỉ lệ sử dụng phép tỉnh lược áp đảo (34,1%) nhằm tạo nhịp điệu khẩn trương và cô đọng ngôn từ.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được những kết quả và đóng góp cụ thể về lý luận cũng như thực tiễn:
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Góp phần xây dựng quy trình phân tích một đơn vị giao tiếp hoàn chỉnh và phức tạp là diễn ngôn phóng sự báo in trên cơ sở kết hợp lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday với phân tích diễn ngôn.
- Chứng minh mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ giữa ba siêu chức năng (tư tưởng, liên nhân, văn bản) tương ứng với ba bình diện cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng trong tổ chức ngôn bản báo chí.
- Làm sáng tỏ đặc trưng thể loại của phóng sự: Là thể loại thông tin sự kiện nhưng chịu sự chi phối mạnh mẽ của mục đích định hướng nhận thức và dấu ấn văn học.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng và miêu tả định tính chi tiết về các đặc điểm cú pháp, từ vựng, ngữ nghĩa của phóng sự báo in tiếng Anh và tiếng Việt.
- Chỉ ra các nguyên nhân văn hóa, xã hội và tư duy dẫn đến sự khác biệt: Báo chí tiếng Anh chịu ảnh hưởng của tư duy duy lí, nhịp sống công nghiệp và tính thương mại hóa nên thiên về cung cấp thông tin khách quan; báo chí tiếng Việt chịu ảnh hưởng của tư duy duy tình, truyền thống giao lưu báo chí – văn học và vai trò định hướng xã hội nên thiên về bộc lộ cảm xúc và định hướng nhận thức.
- Kết quả nghiên cứu phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy chuyên ngành Ngôn ngữ báo chí, biên dịch báo chí Anh – Việt và nâng cao kĩ năng viết phóng sự cho người làm báo.
- Đề xuất, kiến nghị rút ra từ nghiên cứu:
- Đối với người viết phóng sự tiếng Việt: Cần cân nhắc mức độ can thiệp chủ quan, tránh lạm dụng các biểu thức quy chiếu mang tính định kiến hoặc quá thiên về cảm xúc, đồng thời đa dạng hóa các phương tiện liên kết văn bản thay vì phụ thuộc quá nhiều vào phép tỉnh lược.
- Đối với công tác dịch thuật báo chí Anh – Việt: Cần nắm vững sự chuyển dịch về cấu trúc Đề – Thuyết, cơ chế ẩn dụ tình thái và cách dùng động từ dẫn để chuyển tải chính xác cả thông tin sự kiện lẫn thái độ liên nhân của văn bản gốc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn tư liệu và thời điểm thực hiện (năm 2003), luận án chỉ tập trung khảo sát 200 ngôn bản phóng sự trên báo in truyền thống được xuất bản sau năm 1990, chưa mở rộng sang các loại hình truyền thông khác.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án mở ra khả năng mở rộng phạm vi đối chiếu sang diễn ngôn phóng sự trên báo điện tử, truyền hình và phát thanh, hoặc khảo sát sự biến đổi của ngôn ngữ báo chí trong bối cảnh toàn cầu hóa và truyền thông đa phương tiện.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Lí luận ngôn ngữ, Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu: Tham khảo khung phân tích ba siêu chức năng của Halliday ứng dụng vào phân tích diễn ngôn thực tế.
- Giảng viên, sinh viên ngành Báo chí – Truyền thông: Sử dụng các kết quả phân tích cấu trúc bài báo, phương thức tiếp cận sự kiện và kĩ thuật diễn đạt trong phóng sự báo in.
- Biên dịch viên báo chí: Tham khảo các bảng đối chiếu về động từ dẫn, cấu trúc danh ngữ mở rộng và phương thức biểu đạt tình thái giữa tiếng Anh và tiếng Việt.
Câu hỏi thường gặp
1. Khung lý thuyết phân tích cốt lõi mà luận án sử dụng là gì?
Luận án sử dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday với ba siêu chức năng của cú (tư tưởng, liên nhân, văn bản) kết hợp với các lý thuyết phân tích diễn ngôn về cấu trúc thông tin (Brown & Yule), ngữ cảnh tình huống (Halliday & Hasan) và mô hình giao tiếp báo chí (Dương Văn Quảng).
2. Tỉ lệ các quá trình chuyển tác trong phóng sự thay đổi như thế nào so với thể loại tin?
Trong cả hai thứ tiếng, phóng sự ghi nhận sự giảm sút của quá trình vật chất (tiếng Anh giảm từ 41% xuống 36%, tiếng Việt giảm từ 66% xuống 32%) và sự gia tăng mạnh mẽ của quá trình quan hệ (tiếng Anh tăng từ 10% lên 30%, tiếng Việt tăng từ 3% lên 28%), phản ánh tính chất chuyển hóa sự kiện thành nhận thức và bình luận của tác giả.
3. Khác biệt cơ bản trong cách thể hiện tính tình thái giữa phóng sự tiếng Anh và tiếng Việt là gì?
Phóng sự tiếng Anh thiên về ẩn dụ tình thái dạng khách thể tường minh (46,5%), chủ yếu dùng cú phóng chiếu và chủ ngữ hình thức vô nhân xưng (It) để giữ tính khách quan. Phóng sự tiếng Việt thiên về ẩn dụ tình thái dạng chủ thể tường minh (41,5%), đặc biệt là chủ thể ngôi thứ nhất ở dạng ẩn/giản lược (21,5%) và ngôi thứ hai (11,5%) nhằm chủ động định hướng suy nghĩ người đọc.
4. Khác biệt nổi bật nhất về phương thức liên kết văn bản giữa hai ngôn ngữ là gì?
Phóng sự tiếng Anh phân bổ đồng đều các phương thức liên kết (liên hợp 19,3%, đồng định vị 19,3%, quy chiếu 17,1%, lặp 16,7%), trong khi phóng sự tiếng Việt có sự phân cực mạnh với tỉ lệ sử dụng phép tỉnh lược cao vượt trội (34,1% so với 3,7% của tiếng Anh).
5. Luận án giải thích nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt trong phong cách phóng sự giữa hai ngôn ngữ như thế nào?
Nguyên nhân xuất phát từ sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ (biến tố phân tích tính so với phân tích tính), đặc trưng tư duy (duy lí của người Anh so với duy tình của người Việt), nhịp sống công nghiệp và tính thương mại của báo chí phương Tây so với chức năng định hướng tư tưởng, nâng cao dân trí và truyền thống giao lưu báo chí – văn học sâu đậm tại Việt Nam.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương là công trình khảo sát chuyên sâu và có hệ thống về diễn ngôn phóng sự báo in qua lăng kính ngữ pháp chức năng và ngôn ngữ học đối chiếu. Thông qua việc phân tích thực nghiệm 200 ngôn bản tiếng Anh và tiếng Việt, luận án đã làm rõ sự tương đồng và khác biệt trong cơ chế hiện thực hóa ba siêu chức năng tư tưởng, liên nhân và văn bản. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cứ liệu quan trọng cho lý thuyết phân tích diễn ngôn và ngôn ngữ học so sánh mà còn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho hoạt động tác nghiệp báo chí và dịch thuật truyền thông.