CHƯƠNG 1 - TƯ PHÁP VÀ ĐỘC LẬP TƯ PHÁP 1. Khái niệm tư pháp Trong từ điển Black Law, tái bản lần thứ 6, tư pháp được định nghĩa là “một nhánh của chính quyền được trao quyền tư pháp; hệ thống Tòa án trong một quốc gia; các Thẩm phán. Tư pháp là một nhánh quyền lực của nhà nước nhằm giải thích và áp dụng pháp luật” [53]. Theo thuyết tam quyền phân lập, tư pháp là một trong ba quyền của quyền lực nhà nước: lập pháp (làm pháp luật, ban hành pháp luật); hành pháp (thi hành pháp luật) và tư pháp (giữ gìn, bảo vệ pháp luật, xử lý các việc vi phạm pháp luật).
Theo quan điểm của phương Tây, tư pháp được hiểu là xét xử - đồng nghĩa với hoạt động của Tòa án để tìm ra công lý, công bằng cho tất cả mọi người. Bên cạnh đó cũng có quan niệm tư pháp không chỉ là hoạt động xét xử của Tòa án, mà còn bao gồm các hoạt động công tố và kiểm sát, hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra, hoạt động của các thiết chế bổ trợ tư pháp và hoạt động thi hành án. Có thể khẳng định dù tiếp cận dưới góc độ nào thì tư pháp cũng đều chỉ hoạt động xét xử của Tòa án nhằm bảo vệ công lý, công bằng cho tất cả mọi người. Trong phạm vi luận văn này, tư pháp được hiểu là một nhánh quyền lực của nhà nước, là hoạt động xét xử của Tòa án, có chức năng xét xử các hành vi vi phạm pháp luật, giải quyết các tranh chấp trong xã hội nhằm mục đích bảo đảm quyền con người và bảo vệ pháp luật.
Hoạt động tư pháp Nếu quan niệm tư pháp không chỉ bao gồm chủ thể của quyền tư pháp (Tòa án), mà còn bao gồm các chủ thể tham gia thực hiện quyền tư pháp (Viện kiểm sát/cơ quan công tố, các cơ quan điều tra và cơ quan thi hành án), thì hoạt động tư pháp bao gồm một hệ thống các hoạt động: (i) hoạt động xét xử của Tòa án; (ii) hoạt động công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát/cơ quan công tố; (iii) hoạt động điều tra của các cơ quan điều tra; (iv) hoạt động của các thiết chế bổ trợ tư pháp; (v) hoạt động thi hành án. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu quan niệm tư pháp là hoạt động xét xử thì hoạt động tư pháp cũng chính là hoạt động xét xử. Mục đích của hoạt động tư pháp nhằm phục hồi các quan hệ xã hội bị xâm phạm, bảo đảm ổn định trật tự xã hội, trật tự pháp luật trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội, phục vụ sự tiến bộ xã hội. Một điều quan trọng hơn mà hoạt động tư pháp hướng đến chính là bảo đảm, bảo vệ quyền con người, bảo đảm công lý được thực thi và một xã hội dân chủ, ổn định, phát triển.
Như đã đề cập ở trên, trong phạm vi luận văn này, tư pháp được hiểu là một nhánh quyền lực của nhà nước, là hoạt động xét xử của Tòa án. Theo đó, hoạt động tư pháp cũng được hiểu là hoạt động xét xử của Tòa án. Hoạt động tư pháp có những đặc điểm sau: Thứ nhất, hoạt động tư pháp có chức năng bảo vệ Hiến pháp và pháp luật. Hoạt động tư pháp được tiến hành trên cơ sở pháp luật, không thể vượt quá giới hạn, phạm vi luật định.
Do đó, thông qua hoạt động tư pháp, mục đích của quy phạm pháp luật được bảo đảm thực hiện. Khi có hành vi vi phạm pháp luật, hoạt động tư pháp sẽ khôi phục giá trị của các quy định pháp luật đó. Thứ hai, hoạt động tư pháp là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước và công lý để đưa ra phán quyết. Do đó, phán quyết của các cơ quan tư pháp được bảo đảm thi hành bởi sự cưỡng chế của cơ quan nhà nước.
Phán quyết của cơ quan tư pháp có hiệu lực bắt buộc, mọi chủ thể liên quan phải tôn trọng và tuân thủ phán quyết một cách nghiêm túc. Không một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào có quyền xét lại hoặc sửa phán quyết của cơ quan tư pháp. Thứ ba, hoạt động tư pháp là hoạt động xét xử do Tòa án thực hiện và phải tuân theo quy định của pháp luật tố tụng. Theo đó, Tòa án chỉ tiến hành xét xử khi có yêu cầu hoặc khởi kiện.
Điều đó có nghĩa rằng, Tòa án chỉ thẩm định luật do Quốc hội/Nghị viện ban hành có hợp hiến hay không, các văn bản pháp quy của các cơ quan hành pháp có phù hợp với Hiến pháp và pháp luật hay không khi có yêu cầu hoặc có khởi kiện đến Tòa án. Tòa án chỉ giải quyết các tranh chấp giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa các cơ quan nhà nước và nhân viên của các cơ quan này 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với công dân, giữa các công dân với nhau, khi tranh chấp đó được khởi kiện đến Tòa án. Tòa án cũng chỉ quyết định rằng việc bắt, tạm giam một người là đúng hay không đúng pháp luật khi người đó khiếu nại đến Tòa án. Tóm lại, Tòa án chỉ thực hiện quyền lực tư pháp khi được yêu cầu.
Tòa án không bao giờ tự mình thẩm tra tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản luật và dưới luật; Tòa án không tự mình kiểm tra rồi phán quyết về tính hợp hiến, hợp pháp của hành vi và quyết định của các cơ quan công quyền [3, tr. Thứ tư, hoạt động tư pháp là hoạt động giải thích pháp luật trong phạm vi giải quyết vụ án cụ thể chứ không vượt quá giới hạn này. Các quy phạm pháp luật có tính khái quát cao nên không phải lúc nào cũng có tính rõ ràng, do vậy trong từng vụ án cụ thể mà người đưa ra phán quyết có trách nhiệm giải thích điều luật áp dụng. Ngoài ra, quy định pháp luật không thể bao trùm hết tất cả lĩnh vực trong xã hội khi có sự kiện phát sinh.
Khi đó, những người tiến hành hoạt động tư pháp không thể từ chối xét xử vì lý do không có quy định pháp luật, mà phải tìm ra, viện dẫn, giải thích pháp luật dựa trên đạo luật mang tính pháp lý cao nhất, tập quán, hoặc trên nguyên tắc tổng quát nhất của pháp luật. Độc lập tư pháp 1. Khái niệm độc lập tư pháp Tương tự như trong nhận thức về tư pháp, tuỳ theo phương pháp tiếp cận mà độc lập tư pháp cũng được hiểu và trình bày khác nhau. Với quan điểm tư pháp là một nhánh quyền lực nhà nước, độc lập tư pháp chính là sự độc lập của nhánh quyền lực tư pháp với các nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp.
Theo đó, tư pháp không chịu sự tác động của bất kỳ nhánh quyền lực nào khác, hoặc từ một cá nhân, hay từ các nhóm lợi ích chính trị của những người cầm quyền. Nếu xét từ góc độ tư pháp chỉ hoạt động xét xử của Tòa án, độc lập tư pháp chính là sự độc lập trong xét xử, cụ thể mọi phán quyết hay quyết định của Tòa án không chịu sự ràng buộc, can thiệp hay uy hiếp từ bất kỳ một chủ thể nào thuộc cơ quan quyền lực nhà nước cũng như trong xã hội. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nếu xét từ góc độ tư pháp là hoạt động của Tòa án, các cơ quan điều tra, kiểm sát, truy tố, xét xử và thi hành án, độc lập tư pháp phải là sự độc lập của các cơ quan này. Cũng tương tự như quan điểm về tư pháp, trong luận văn này, độc lập tư pháp chính là độc lập của Tòa án hay độc lập xét xử của Tòa án, có nghĩa là Tòa án phải độc lập về mặt thể chể và Thẩm phán.
Các tiêu chí về độc lập tư pháp 1. Theo pháp luật quốc tế a) Một số văn kiện quốc tế về độc lập tư pháp Độc lập tư pháp được ghi nhận tại rất nhiều văn kiện quốc tế trong phạm vi khu vực cũng như toàn thế giới, có thể kể tên một số văn kiện quan trọng sau: - Văn kiện pháp lý toàn cầu: (i) Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền [64] (sau đây gọi là “UDHR”); (ii) Công ước quốc tế về quyền chính trị và dân sự (sau đây gọi là “ICCPR”) [59], Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (1966); (iii) Bộ luật Tiêu chuẩn Tối thiểu về Độc lập Tư pháp của Hiệp hội Luật sư Thế giới năm 1982 [57] (sau đây gọi là “Bộ luật Tiêu chuẩn IBA”); (iv) Tuyên bố Quốc tế Montreal về Độc lập Tư pháp (1983) [58] (sau đây gọi là “Tuyên bố Montreal”); (v) Quan điểm về tính độc lập của Tòa án của Uỷ ban quyền con người được thể hiện qua một trong số các Khuyến nghị chung của HRC về việc áp dụng Tuyên bố toàn cầu về quyền con người - Khuyến nghị chung số 13 ban hành ngày 13 tháng 4 năm 1984 về quyền bình đẳng trước Tòa án và quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập được thành lập theo pháp luật; (vi) Các Nguyên tắc Cơ bản của Liên hợp quốc về độc lập tư pháp 1985 [60] (sau đây gọi là “Các nguyên tắc cơ bản về độc lập tư pháp 1985”); (vii) Điều lệ chung về Thẩm phán của Hiệp hội Thẩm phán Quốc tế (1999); (viii) Bộ nguyên tắc Bangalore về Đạo đức tư pháp [63] (sau đây gọi là “Bộ nguyên tắc Bangalore”) - Văn kiện pháp lý trong phạm vi khu vực: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (i) Công ước quyền con người Châu Âu 1950 [56] (sau đây gọi là “ECHR”); (ii) Công ước quyền con người Châu Mỹ 1969 [61] (sau đây gọi là “ACHR”); (iii) Hiến chương quyền con người và nhân dân Châu Phi 1981 [52] (sau đây gọi là “ACHPR 1981”); (iv) Tuyên bố Bắc Kinh về các nguyên tắc độc lập Tư pháp (1995) [41] (sau đây gọi là “Tuyên bố Bắc Kinh”); và (v) Kiến nghị số R(94) 12 của Hội nghị Bộ trưởng các quốc gia thành viên của Uỷ ban Châu Âu về tính độc lập, hiệu quả và vai trò của Thẩm phán. b) Tiêu chí về độc lập tư pháp theo quy định của pháp luật quốc tế Tất cả các văn kiện quốc tế và khu vực về quyền con người đều nhằm mục đích đảm bảo rằng thủ tục tố tụng dân sự và hình sự được tiến hành một cách bình đẳng trước một Tòa án hay cơ quan xét xử độc lập và công bằng. Mục đích của phần này là chỉ ra những yếu tố tạo nên sự “độc lập” của Tòa án dưới góc nhìn của các tổ chức quốc tế.