CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH ĐỘC LẬP CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TRONG VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 1.1 Khái niệm về tính độc lập của Hội đồng xét xử trong vụ án hành chính 1.1 Khái niệm về tính độc lập Trên thế giới tồn tại nhiều hệ thống chữ viết khác nhau. Quốc ngữ Việt Nam vốn thuộc hệ chữ La Tinh, tuy nhiên, chữ viết thuở hàn vi của người Việt xưa lại là chữ Hán, ấn tích của Hán tự ngày nay vẫn còn đọng lại rất nhiều và chiếm số lượng lớn trong kho tàng ngôn từ của người Việt. Do đó, trong phạm vi của đề tài này, tác giả sẽ lựa chọn giải thích khái niệm của tính độc lập theo hai hệ chữ viết có mối gắn kết mật thiết với chữ viết Việt Nam, đó là hệ chữ viết La Tinh mà đại diện là tiếng Anh và hệ chữ tượng hình mà đại diện là tiếng Hán. Trong tiếng Anh, “độc lập” là “independence”.
Từ gốc của “independence” là “dependence – phụ thuộc” thêm vào phía trước là tiền tố phủ định “in”. “Dependence” hay viết ở dạng động từ là “depend” trong tiếng Anh hiện đại có nghĩa là phụ thuộc, chịu ảnh hưởng bởi ai đó hay cái gì đó. Tuy nhiên, trong cách sử dụng của tiếng Anh thời kỳ trung đại, nghĩa gốc của “depend” là “hang down”1, có nghĩa là để cái gì đó rơi xuống, thõng xuống dưới, ý nghĩa này gợi nên hình ảnh sự vật ở trong một trạng thái thong dong, phó mặt cho mọi thứ, bị kéo xuống và xuôi theo lực hút của trái đất. Khi đặt tiền tố phủ định “in” trước “dependence” đồng nghĩa với việc phủ định sự buông xuống, xuôi theo lực hút kia, hay nói cách khác “independence” chính là không buông xuôi, không cam chịu sự sắp đặt của tự nhiên, mà bám víu lấy mục tiêu của mình và hiện thực hoá bằng hành động.
Về phương diện hệ chữ cái tượng hình, “độc lập” được viết dưới dạng Hán tự như sau: 独立, gồm hai chữ 独 (độc) và 立 (lập) tạo thành. Chữ 独 (độc) được tạo thành bởi hai bộ, bên trái là bộ Khuyển, bên phải là bộ Trùng. Bộ Khuyển chỉ loài chó, bản tính của loài này vốn hung dữ, hiếu chiến, không chiến đấu theo bầy đàn mà đơn thân độc mã đối diện với kẻ địch, sau khi đánh bại được đối thủ, chúng sẽ một mình tận hưởng phần thức ăn, tức con mồi của mình. Đối với bộ Trùng, ý nghĩa của bộ này ám chỉ “trùng” trong “côn trùng”.
Hàm ý của bộ Trùng bắt nguồn từ bản tính của một loại côn trùng tên gọi thục quỳ, loài này thích sống một mình bên trong các bông hướng dương2. Bản tính chính là cái vốn có, được giới tự nhiên “mã hoá” lên 1 Theo Từ điển Oxford Learner’s Dictionaries online, https://www.com/definition/english/dependence?q=dependence, truy cập ngày 11/04/2022. 2 Theo thông tin của một thầy giáo người Trung Quốc dạy tiếng Trung cho người Việt mà tác giả đã liên hệ, trao đổi về ý nghĩa của 独. 5 mỗi một sinh vật tồn tại trong trời đất này.
Dù là chó nghiệp vụ hay chó nuôi trông nhà, dẫu hoàn cảnh sống, huấn luyện khác nhau nhưng chúng luôn giữ tập tính chiến đấu một mình. Đã là thục quỳ, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi, đều sẽ trải qua một kiếp sâu bọ đơn độc bên trong mỗi bông hướng hướng. Từ đó, hình thành nên ý nghĩa của “độc” trong “độc lập” theo chữ Hán là tự mình tồn tại, tự mình hành động và đây là sự tự nhận thức, không chịu ảnh hưởng hay tác động của bất cứ ai, là một đặc tính tự nhiên, thuộc về phần bản năng. Còn 立 (lập) bắt nguồn từ cổ văn xưa là hình vẽ một người đứng giữa trời đất, hai chân dang rộng, giữ vững tư thế đứng thẳng, về bản chất, từ “lập” có ý nghĩa là đứng thẳng.
Có thể nói, “lập” hàm ý cho một người đứng giữa trời đất bao la, đang tìm kiếm chỗ đứng cho chính mình3, đứng thẳng người đương đầu với gian truân, không nương tựa hay dựa dẫm vào bất cứ điều gì. Từ đó, “độc lập” trong tiếng Trung có nghĩa là tự mình tồn tại, tự mình hành động, không nương tựa hay dựa dẫm vào bất kỳ ai, vào bất kỳ điều gì và đây là sự tự nhận thức, là một đặc tính tự nhiên mà không chủ thể nào có thể tạo ra hay triệt tiêu đi trên bản thân một sinh vật. Theo cách giải thích của Từ điển Tiếng Việt, thì độc lập là “đứng một mình, không dựa vào ai, không nhờ cậy vào ai, không bị ai kiềm chế”4. Có thể thấy, cách lý giải này khá ngắn gọn, không có các giai đoạn thay đổi để khai thác các cách hiểu khác nhau trong từng giai đoạn đó và cũng không có chiều sâu để có thể liên tưởng vì không được hình thành từ hình ảnh sự vật thật trong tự nhiên.
Hơn nữa, “độc lập” vốn là một từ Hán Việt, được người Việt mượn từ tiếng Hán, trong quá trình chuyển ngữ, người dịch thuật có thể chỉ đơn thuần dịch thoáng nghĩa của từ để phù hợp với cách hiểu của người Việt Nam, do vậy mà nghĩa của từ “độc lập” theo Từ điển Tiếng Việt nói trên có thể chưa bao quát được phần nội tại bên trong ý nghĩa thật sự của từ này theo ý nghĩa gốc mà tiếng Hán biểu đạt. Tựu chung lại, dù có những sự khác nhau nhất định, tuy nhiên, “độc lập” trong cả ba ngôn ngữ trên đều biểu đạt một điểm chung: “độc lập” là tự mình hành động, không bị lệ thuộc hay dựa dẫm vào ai. Từ đó, theo quan điểm của tác giả, “độc lập” chính là không nương tựa hay dựa dẫm vào ai hay điều gì, tự mình tồn tại, tự mình hành động, không buông xuôi, không thoả hiệp khi đối diện với sự an bài của số mệnh, vươn lên chiến thắng nghịch cảnh, “độc lập” trong mỗi chủ thể là kết tinh của quá trình tự nhận thức, không phải kết quả của việc chịu ảnh hưởng hay tác động của bất cứ nhân tố nào. 3 许慎 (2021), 话说汉字 (Tạm dịch: Giải nghĩa Hán tự), NXB 北京联合, tr.
4 Hoàng Phê (Chủ biên) (1994), Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, tr.2 Khái niệm về Hội đồng xét xử Công lý và Toà án là hai phạm trù có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó công lý là tiêu chí đánh giá nền tư pháp của một quốc gia, còn Toà án là nơi thể hiện sâu sắc nhất bản chất của chế độ, là nơi bảo vệ công lý. Nhắc đến việc bảo vệ và thực thi công lý, người ta nghĩ ngay đến hoạt động và chức năng xét xử của Toà án. Theo Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc và Thạc sĩ Nguyễn Thu Trang thì “hoạt động xét xử là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau trong các tranh chấp hay mâu thuẫn đó”5. Đối với nội dung của hoạt động xét xử, việc thực hiện các hoạt động xem xét, đánh giá và ra phán quyết về “tính hợp pháp” của hành vi pháp luật là điều không có gì bàn cãi, tuy nhiên, nếu hoạt động xét xử lại bao hàm cả việc phán xét “tính đúng đắn” của hành vi pháp luật đó thì liệu có phù hợp hay chăng? “Tính đúng đắn” thuộc phạm trù xã hội, là chỉ số để đo lường thái độ, hành vi của con người có phù hợp với quy luật, lẽ phải, đạo lý hay không.
Cơ sở để nhận định “tính đúng đắn” chủ yếu dựa trên quan điểm cá nhân, tức là tuỳ mỗi cá nhân sẽ có những cách nhìn nhận chủ quan khác nhau về hành vi xảy ra trong thực tế. Xem xét “tính đúng đắn” của các hành vi pháp luật có thể hiểu chính là xem xét “tính hợp lý” của các hành vi đó. Tuy nhiên, tranh chấp trong tố tụng hành chính lại không được xem xét ở khía cạnh “tính hợp lý”, bởi lẽ, nếu Toà án xem xét “tính hợp lý” sẽ đồng nghĩa với việc can thiệp vào công việc nội bộ của nhánh hành pháp. Do đó, việc nhận định về “hoạt động xét xử” ở trên bao hàm cả xem xét, đánh giá và ra phán quyết về “tính đúng đắn” của hành vi pháp luật hay quyết định pháp luật thì chưa được toàn diện, bởi lẽ nó sẽ dẫn đến một sự vận dụng khập khiễng nếu áp vào việc giải quyết các vụ án hành chính.
Pháp luật tố tụng Việt Nam không nêu ra một định nghĩa cụ thể về hoạt động xét xử cũng như Hội đồng xét xử là gì mà chỉ quy định khái niệm của Hội đồng xét xử theo hướng liệt kê số lượng thành phần Thẩm phán và Hội thẩm tham dự. Tuỳ thuộc vào loại vụ án, cấp xét xử, phiên toà bình thường hay rút gọn mà quy định số lượng Thẩm phán và Hội thẩm cho phù hợp với bản chất của phiên toà. Cụ thể, theo Điều 63, 64 BLTTDS 2015 thì “Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ 5 Đào Trí Úc, Nguyễn Thu Trang (2014), “Vai trò của hoạt động xét xử của tòa án trong quá trình phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam”, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=208193, truy cập ngày 11/04/2022.
7 thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân. Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự gồm ba Thẩm phán”. Theo Điều 254 BLTTHS 2015 “Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Còn Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán”. Theo Điều 154 LTTHC 2015 thì Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm, trừ phiên toà rút gọn, trong trường hợp khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan đến nhiều đối tượng và vụ án phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Còn Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán.