ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là món quà quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta. Đất là nơi sinh sống của tất cả loài vật, nếu không có đất tất cả mọi hoạt động và làm việc sẽ không thể diễn ra. Vậy mỗi chúng ta nên bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai một cách thông minh và quản lý thật tốt. Các công việc hằng ngày của mỗi chúng ta như Trong cuộc sống đất đai đóng vai trò là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày với các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và cả sinh hoạt, con người đã tác động trực tiếp vào đất đai, làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên và đôi khi làm giảm dần tính bền vững của đất đai.
Hiện nay tình trạng xói mòn, thoái đất và hiện tưởng sa mạc hóa càng trở nên nghiêm trọng, có sức ảnh hưởng lớn. Công tác đo vẽ, chỉnh lý tờ bản đồ địa chính, là công việc chính của công tác quản lý Nhà nước về đất đai đã được quy định trong Luật Đất đai năm 2013. Luan van Đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là một trong các nhu cầu cấp bách của ngành Địa chính trong cả nước nói chung và của tỉnh Hòa Bình nói riêng. Để quản lý đất đai một cách chặt chẽ theo một hệ thống tư liệu mang tính khoa học và kỹ thuật cao, cần thiết phải có bộ bản đồ địa chính chính quy và hồ sơ địa chính hoàn chỉnh theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Hiện nay dưới những hoạt động của con người và những thay đổi của tự nhiên làm cho đất đai có những biến đổi không ngừng do đó. Để bảo vệ quỹ đất đai cũng như để phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý đất đai thì bản đồ địa chính là một trong những tài liệu hết sức cần thiết, vì nó là nguồn tài liệu cơ sở cung cấp thông tin cho người quản lý, sử dụng đất đai, đồng thời là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ địa chính mang tính pháp lý cao. Với tính chất hết sức quan trọng của hệ thống bản đồ địa chính. Với tính cấp thiết của việc phải xây dựng hệ thống bản đồ địa chính cho toàn khu vực xã Dũng Phong, với sự phân công, giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, công ty TNHH Phương Bắc với sự hướng dẫn của cô giáo TS.
Trần Thị Mai Anh em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Đo vẽ, chỉnh lý tờ bản đồ địa chính số 02 xã Dũng Phong - huyện Cao Phong – tỉnh Hòa Bình bằng công nghệ toàn đạc ”. Mục tiêu đề tài 1. Mục tiêu cụ thể - Ứng dụng công nghệ mới, hiện đại chỉnh lý tờ bản đồ địa chính để nâng cao tính chính xác trong đo vẽ bản đồ địa chính tờ bản đồ địa chính số 02 xã Dũng Phong - huyện Cao Phong – tỉnh Hòa Bình. - Đánh giá hiện trạng từ đó tìm ra những thông tin chưa cập nhật, sai lệch giữa thực trạng và bản đồ tại xã Dũng Phong - huyện Cao Phong – tỉnh Hòa Bình.
Ý nghĩa đề tài - Về học tập và quá trình viết bài: + Quá trình thực tập là một thời gian để bản thân em có một cơ hội để kiến thức trở nên vững chắc và có thể ứng dụng tốt vào công việc thực tế. Luan van - Trong thực tiễn: + Sau khi được tìm hiểu và trải nghiệm thực tế công tác đo vẽ, chỉnh lý tờ bản đồ địa chính bằng công nghệ toan đạc em thấy quá trình làm việc này rất hiệu quả và đem lại độ chính xác cao cho công tác quản lý đất đai. Luan van PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Bản đồ địa chính 2.
Khái niệm “Bản đồ địa chính (Cadastral Map) là bản đồ trên đó thể hiện các dạng đồ họa và ghi chú, phản ảnh những thông tin về vị trí, ý nghĩa, trạng thái pháp lý của các thửa đất, phản ánh các đặc điểm khác thuộc địa chính quốc gia”. Vũ Thị Thanh Thủy (2009). Bản đồ địa chính là bản đồ chuyên ngành đất đai trên đó thể hiện chính xác vị trí ranh giới, diện tích và một số thông tin địa chính của từng thửa đất, vùng đất. Bản đồ địa chính còn thể hiện các yếu tố địa lý khác liên quan đến đất đai được thành lập theo đơn vị hành chính cơ sở xã, phường, thị trấn và thống nhất trong phạm vi cả nước.
Nội dung của bản đồ địa chính và các yếu tố cơ bản. Các yếu tố cơ bản Để đảm bảo tính thống nhất, tránh nhầm lẫn và dễ dàng vận dụng trong quá trình thành lập, sử dụng bản đồ và quản lý đất đai, ta cần hiểu rõ một số yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính sau: - Yếu tố điểm: Điểm là một vị trí được đánh dấu ở thực địa bằng dấu mốc đặc biệt. Trong thực tế đó là các điểm trắc địa, các điểm đặc trưng trên đường biên thửa đất, các điểm đặc trưng của địa vật, địa hình. - Yếu tố đường: Đó là các đoạn thẳng cần xác định và quản lý tọa độ hai điểm đầu và cuối, từ tọa độ có thể tính ra chiều dài và phương vị của đoạn thẳng.
- Thửa đất: Là yếu tố quan trọng của đất đai. Thửa đất là một mảnh đất tồn tại ở thực địa có diện tích xác định, được giới hạn bởi một đường bao khép kín, thuộc một chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng nhất định. Trong mỗi thửa đất có thể có một hoặc một số loại đất. Các đặc trưng của thửa đất là: các điểm góc thửa, chiều Luan van dài các cạnh, diện tích, địa danh, tên riêng của khu đất, xứ đồng, lô đất, địa chỉ thôn, đường phố.
- Thửa đất phụ: Trên một thửa đất có thể tồn tại các thửa nhỏ có đường ranh giới phân chia không ổn định, có các phần được sử dụng vào các mục đích khác nhau, mức tính thuế khác nhau, thậm chí thường xuyên thay đổi chủ sử dụng đất. - Lô đất: Là vùng đất có thể gồm một hoặc nhiều thửa đất, được giới hạn bởi các con đường, kênh mương, sông ngòi. - Khu đất, xứ đồng: Đó là vùng đất gồm nhiều thửa đất, nhiều lô đất. Khu đất và xứ đồng thường có tên gọi riêng được đặt từ lâu đời.
- Thôn, bản, xóm, ấp: Đó là các cụm dân cư tạo thành một cộng đồng người cùng sống và lao động sản xuất trên một vùng đất. - Xã phường: Là đơn vị hành chính cơ sở, gồm nhiều thôn, bản hoặc đường phố. Là đơn vị hành chính có đầy đủ các tổ chức quyền lực. Thông thường bản đồ địa chính được đo vẽ và biên tập theo đơn vị hành chính cơ sở xã phường để sử dụng trong quá trình quản lý đất đai.
Nội dung của bản đồ địa chính a. Cơ sở toán học của bản đồ địa chính * Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia Hệ quy chiếu và hệ tọa độ Quốc gia là cơ sở toán học mà mỗi Quốc gia nhất thiết phải có để thể hiện chính xác và thống nhất các dữ liệu đo đạc bản đồ phục vụ quản lý biên giới Quốc gia trên đất liền và trên biển, quản lý Nhà nước về địa giới lãnh thổ, điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên và môi trường, theo dõi hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng. Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia còn đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học về Trái đất trên phạm vi cả nước cũng như khu vực toàn cầu, dự báo biến động môi trường sinh thái và phòng chống thiên tai. Hệ quy chiếu và hệ tọa độ Quốc gia còn cần thiết cho việc lập các dữ liệu địa lý phục vụ đào tạo nâng cao dân trí và các hoạt động dân sự của cộng đồng.
Luan van Nhằm đảm bảo yêu cầu đặt ra trong quá trình thành lập, sử dụng bản đồ phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên phạm vi cả nước. Trước hết phải thống nhất cơ sở toán học và độ chính xác. Muốn như vậy ta phải xây dựng lưới tọa độ thống nhất và hệ quy chiếu tối ưu, phù hợp thực tế lãnh thổ để thể hiện trên bản đồ. Việc lựa chọn hệ quy chiếu phải đặc biệt ưu tiên giảm đến mức có thể ảnh hưởng biến dạng của phép chiếu đến độ chính xác của yếu tố đo đạc.
Việc lựa chọn một hệ quy chiếu Quốc gia phù hợp và xử lý toán học nâng cao tính thống nhất và độ chính xác hệ tọa độ Quốc gia là một nhiệm vụ cấp thiết cần thực hiện. Hệ quy chiếu Quốc gia cần được lựa chọn theo các tiêu chuẩn sau: - Phù hợp với lãnh thổ Việt Nam để các tư liệu đo đạc bản đồ có độ biến dạng ít nhất. - Tạo điều kiện áp dụng và phát triển các công nghệ định vị hiện đại có độ chính xác cao (công nghệ định vị GPS hiện đang là phương tiện phổ biến và chủ yếu để xây dựng lưới tọa độ Việt Nam). - Hệ quy chiếu phải phù hợp với tập quán sử dụng ở nước ta hiện nay và có tính phổ dụng trên thế giới.
- Khi cần thiết phải có khả năng liên kết chính xác với các tư liệu bản đồ khu vực và toàn cầu nhằm giải quyết các vấn đề chung. Đảm bảo tính bảo mật tuyệt đối về hệ tọa độ Quốc gia và tiết kiệm chi phí cho việc chuyển đổi hệ quy chiếu và hệ tọa độ Quốc gia. Điểm gốc tọa độ quốc gia là một trong các yếu tố tạo thành hệ quy chiếu và hệ tọa độ Quốc gia. Điểm gốc tọa độ của hệ HN-72trong khuôn viên nghiên cứu khí tượng Láng, Hà Nội điểm gốc tọa độ N00 của hệ VN-2000 đặt trong khuân viên Viện cục đo đạc và Bản đồ Việt Nam tại phố Đặng Thùy Trâm, quận Cầu Giấy, Hà Nội Phép chiếu UTM quốc tế được sử dụng để tính hệ tọa độ phẳng, trên múi chiếu 30 , sai số trên kinh tuyến giữa của mỗi múi là k0 = 0,9999.
Luan van Hệ tọa độ vuông góc phẳng: có trục Y là xích đạo, trục X là kinh tuyến trục quy định thống nhất cho từng tỉnh, lùi về phía tây 500km. Cơ sở khống chế tọa độ, độ cao của bản đồ địa chính bao gồm lưới tọa độ và độ cao Nhà nước, lưới tọa độ địa chính, lưới khống chế đo vẽ và các lưới khống chế ảnh.