Khóa luận: Quá trình đô thị hóa ở quận Liên Chiểu, Đà Nẵng (2010-2020)

Tổng quan quá trình đô thị hóa tại quận Liên Chiểu, Đà Nẵng 2010-2020. Phân tích thực trạng kinh tế, cơ sở hạ tầng và những biến đổi xã hội.

Chuyên ngành

Sư phạm Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2024

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và bối cảnh đô thị hóa quận Liên Chiểu

Đô thị hóa là quá trình chuyển đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế, xã hội và không gian địa lí của một khu vực. Tại quận Liên Chiểu, Đà Nẵng, giai đoạn 2010-2020 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của quận. Quá trình này không chỉ thay đổi hình thái kiến trúc mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt, văn hóa và kinh tế của cộng đồng địa phương. Sự chuyển biến từ nông thôn sang đô thị đã tạo ra những cơ hội phát triển mới, đồng thời cũng đặt ra những thách thức cần giải quyết.

1.1. Định nghĩa đô thị và đô thị hóa

Đô thị là những khu vực tập trung dân cư, có cơ sở hạ tầng phát triển, hoạt động kinh tế đa dạng và dịch vụ công cộng hoàn thiện. Đô thị hóa là quá trình tăng tỷ lệ dân số sống trong đô thị, mở rộng quy mô không gian đô thị và phát triển các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp.

1.2. Tầm quan trọng phát triển quận Liên Chiểu giai đoạn 2010 2020

Giai đoạn này chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng dân số, xuất hiện các khu dân cư mới, phát triển các dự án bất động sản và cơ sở hạ tầng hiện đại. Những biến đổi này đặt quận Liên Chiểu trở thành một trong những khu vực phát triển nhanh nhất của Đà Nẵng.

II. Những biến đổi về kinh tế và cơ sở hạ tầng

Trong giai đoạn 2010-2020, quận Liên Chiểu đã chứng kiến những thay đổi đột phá về kinh tế và cơ sở hạ tầng. Sự phát triển của các khu công nghiệp, khu thương mại và dịch vụ đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Xây dựng các tuyến đường giao thông hiện đại, hệ thống cấp nước, điện và các dịch vụ công cộng khác đã nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Đặc biệt, sự xuất hiện của các khu dân cư mới và công trình xây dựng lớn đã thay đổi toàn bộ bộ mặt của quận.

2.1. Phát triển cơ sở hạ tầng đô thị

Hệ thống giao thông được mở rộng với các tuyến đường chính như Ngô Quyền, Hàng Tháo được nâng cấp. Cơ sở hạ tầng nước, điện, viễn thông phát triển theo kịp nhu cầu. Các công trình công cộng như trường học, bệnh viện, chợ và công viên được xây dựng để phục vụ dân cư mới.

2.2. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế địa phương

Từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, quận Liên Chiểu đã chuyển dần sang các hoạt động thương mại, dịch vụ và công nghiệp. Xuất hiện các khu kinh doanh nhỏ, shop, siêu thị và các dịch vụ phục vụ đô thị phát triển mạnh mẽ.

III. Tác động xã hội và văn hóa của đô thị hóa

Quá trình đô thị hóa quận Liên Chiểu đã tạo ra những tác động sâu sắc đối với xã hội và văn hóa địa phương. Sự kéo dài thời gian lao động trong môi trường đô thị, thay đổi trong cơ cấu gia đình và sự xuất hiện của các giá trị văn hóa mới đã ảnh hưởng đến lối sống truyền thống của người dân. Mặt khác, sự giao thoa giữa văn hóa nông thôn và đô thị tạo ra một không khí văn hóa đặc sắc riêng. Các hoạt động xã hội, lễ hội truyền thống được bảo tồn nhưng cũng có sự cải tiến để phù hợp với cuộc sống hiện đại.

3.1. Thay đổi lối sống và cộng đồng địa phương

Người dân từ từ thích nghi với cuộc sống đô thị với nhịp độ nhanh hơn. Các mối quan hệ xã hội cơ sở dân cư thay đổi, từ sự gắn bó cộng đồng nông thôn sang sự giao tiếp chuyên nghiệp trong đô thị. Tuy nhiên, những giá trị gia đình và cộng đồng vẫn được bảo tồn.

3.2. Bảo tồn và phát triển di sản văn hóa địa phương

Các lễ hội truyền thống như Tết Nguyên Đán, hội làng vẫn được tổ chức nhưng với hình thức hiện đại hơn. Các hoạt động văn hóa, thể thao cộng đồng được khuyến khích phát triển. Sự giao thoa văn hóa tạo nên một bộ mặt văn hóa đa sắc, vừa giữ nét truyền thống vừa tiếp nhận yếu tố hiện đại.

IV. Phát triển giáo dục y tế và chất lượng cuộc sống

Sự đô thị hóa quận Liên Chiểu đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các dịch vụ giáo dục và y tế. Nhiều trường học mới được xây dựng với trang thiết bị hiện đại, đáp ứng nhu cầu giáo dục của trẻ em trong bối cảnh dân số tăng. Các cơ sở y tế cũng được nâng cấp, cải thiện để phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Chất lượng cuộc sống được nâng cao thông qua việc cải thiện điều kiện sống, tiếp cận dịch vụ công cộng tốt hơn, tạo cơ hội việc làm và thu nhập cao hơn.

4.1. Cải thiện hệ thống giáo dục và đào tạo

Nhiều trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông được xây dựng mới hoặc mở rộng. Các cơ sở đào tạo nghề xuất hiện để đáp ứng nhu cầu lao động của các doanh nghiệp mới. Tỷ lệ trẻ em đi học và chất lượng giáo dục tăng lên đáng kể.

4.2. Nâng cấp dịch vụ y tế và sức khỏe cộng đồng

Các trạm y tế xã được nâng cấp thành trung tâm y tế với trang thiết bị hiện đại. Bệnh viện đa khoa được xây dựng để phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện. Công tác phòng chống bệnh tật và nâng cao sức khỏe cộng đồng được quan tâm và cải thiện.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ QUẬN LIÊN CHIỂU 1. Một số vấn đề về đô thị và đô thị hóa 1. Khái niệm chung về đô thị Thuật ngữ về đô thị bắt nguồn từ tiếng la-tinh: Urbanus – thuộc về đô thị, Urban – Thành thị, đô thị,… Mỗi một quốc gia có những tiêu chí riêng để định nghĩa về đô thị. Tuy nhiên đô thị được xác định qua các khía cạnh sau: Sự tập trung dân cư: Đô thị trước hết phải là một khu vực có một lượng dân cư sống tập trung nhất định, được lượng hóa bằng mật độ dân số Vai trò kinh tế xã hội trong vùng: Các hoạt động kinh tế, hành chính ở một đô thị phải có vai trò như một trung tâm của một vùng.

Sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, ảnh hưởng văn hóa , phạm vi quản lí hành chính,… mang tính chất cho cả vùng, không chỉ phục vụ cho bản thân địa điểm đó. Theo Từ điển bách khoa toàn thư của Liên Xô: "Đô thị là một khu dân cư rộng lớn, dân cư ở đây hoạt động chủ yếu trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp cũng như trong lĩnh vực quản lý khoa học và văn hoá". Ở đây chúng ta tập trung vào nội hàm khái niệm này: khái niệm không chỉ giới hạn trong hoạt động công nghiệp mà còn có cả thương nghiệp, quản lý khoa học và văn hoá. Tuy nhiên, khái niệm này cũng chưa động đến những đặc trưng của đô thị như mỗi đô thị có một giá trị văn hoá khác nhau, di sản văn hoá khác nhau, có những đặc trưng riêng biệt về phong tục tập quán, đời sống tinh thần; nhưng định nghĩa này không được thoả mãn lắm, nhất là với trường hợp các đô thị cận hiện đại.

- Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ: một khu vực đô thị là nơi có mật độ dân số lớn hơn 1.000 người/1 dặm vuông (386 người/km2). Họ căn cứ vào tác động của dân số (mật độ trên 1.000 người/dặm vuông) mà không tập trung vào tổng số dân hay tỷ lệ người dân làm trong các lĩnh vực kinh tế. 10 Trong bài viết này, tác giả muốn đề cập tới vấn đề khái niệm về đô thị. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Hà Nội, 1995, đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp.

Theo Giáo trình Quy hoạch Đô thị của Nhà xuất bản Xây dựng, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống với mật độ dân cư cao, chủ yếu là hoạt động kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước, vùng, miền, tỉnh, huyện,… Theo Luật Quy hoạch Đô thị năm 2009, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn. Tại Việt Nam hiện nay, đô thị được xác định bởi các tiêu chí sau: - Là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành - Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người - Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 55% trở lên trong tổng số lao động. - Có cơ sở hạ tầng và các công trình công cộng thích hợp phục vụ dân cư đô thị. - Mật độ dân cư toàn đô thị từ 1000 nghìn/km2 trở lên, mật độ dân cư/ diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 5000 nghìn/km2 trở lên.

Dưới góc độ lịch sử, đô thị là kết quả của sự phát triển lịch sử, ghi lại những dấu ấn của từng giai đoạn trong tiến trình kinh tế và văn hóa của xã hội con người. Đô thị là một điểm mạnh trong không gian kinh tế, nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, trao đổi và tiêu thụ sản phẩm. 11 Tuy nhiên, một vài thông tin trên trên chưa thể cho chúng ta biết được khái niệm chung về đô thị. Để có một cái nhìn tổng thể khái niệm chung về đô thị, đô thị được hiểu là một kết quả của sự phát triển lịch sử, không chỉ là một địa điểm tập trung dân cư và hoạt động kinh tế phi nông nghiệp mà còn là kết quả của sự phát triển lịch sử của xã hội con người.

Đô thị không chỉ là một nơi sinh sống và làm việc mà còn là nơi ghi lại những dấu ấn của từng giai đoạn trong tiến trình kinh tế và văn hóa của xã hội. Trong quá trình phát triển lịch sử, các đô thị đã từng trải qua những giai đoạn khác nhau. Trải qua các thời kì lịch sử, đô thị cũng đã trở thành điểm mạnh trong không gian kinh tế, nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, trao đổi và tiêu thụ sản phẩm. Sự phát triển của các đô thị đã tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển kinh tế và văn hóa của xã hội, đồng thời cũng đặt ra những thách thức và vấn đề mới cần được giải quyết.

Vì vậy đô thị đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mức độ và phương diện khác nhau. Do đó, việc tìm hiểu và nghiên cứu về đô thị dưới góc độ lịch sử không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vai trò, chức năng và các vấn đề của các đô thị hiện đại, mà còn giúp chúng ta đề xuất các giải pháp phát triển đô thị bền vững, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong tương lai. Phân loại đô thị Về vấn đề phân loại đô thị, trên thế giới và ở Việt Nam cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Theo học giả George: đô thị gồm năm hình thái, phát triển theo năm nhóm, do đó khi định nghĩa đô thị cần xem xét các nhu cầu và phương thức thực hiện ở mỗi hệ thống và chia làm 5 loại.

Tại Việt Nam, theo Nghị quyết số: 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25/05/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị, việc phân loại đô thị được thực hiện theo các nguyên tắc sau: - Việc phân loại đô thị được thực hiện trên cơ sở Chương trình phát triển đô thị quốc gia, Chương trình phát triển đô thị toàn tỉnh và Chương trình phát triển từng đô thị để quản lý phát triển đô thị, bảo đảm phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội. - Đô thị được quy hoạch và đầu tư xây dựng đạt tiêu chí của loại đô thị nào thì được xem xét, đánh giá theo loại đô thị tương ứng. 12 - Đánh giá phân loại đô thị đối với khu vực dự kiến hình thành đô thị trong tương lai là một trong những cơ sở để thành lập, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính đô thị. - Việc phân loại đô thị được thực hiện bằng phương pháp tính điểm.

Điểm phân loại đô thị là tổng số điểm đạt được của các tiêu chí. Căn cứ theo Nghị quyết số: 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25/05/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị, đô thị ở Việt Nam được phân thành các loại cùng với các tiêu chuẩn, tiêu chí như sau: Tiêu chuẩn đô thị loại 1: Đối với đô thị loại 1, căn cứ theo Điều 4 cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí sau đây: 1. Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: a) Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, cấp vùng hoặc cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng liên tỉnh hoặc cả nước; b) Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này. Quy mô dân số: a) Đối với đô thị là thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 1.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 500.000 người trở lên; b) Đối với đô thị là thành phố thuộc tỉnh hoặc thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 500.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 200.000 người trở lên.

Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 2.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 10.000 người/km2 trở lên. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 65% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 85% trở lên. Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này. Tính đến năm 2024, cả nước Việt Nam có 22 đô thị loại 1, bao gồm các nhóm sau: Nhóm thành phố trực thuộc Trung ương gồm 3 thành phố: Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ.

Nhóm thành phố trực thuộc tỉnh gồm 22 thành phố: Thái Nguyên (Thái Nguyên), Nam Định (Nam Định), Việt Trì (Phú Thọ), Hạ Long (Quảng Ninh), Bắc Ninh (Bắc Ninh), Hải Dương (Hải Dương), Thanh Hóa (Thanh Hóa), Vinh (Nghệ An), Huế (Thừa Thiên Huế), Nha Trang (Khánh Hoà), Quy Nhơn (Bình Định), Buôn Ma Thuột (Đăk Lăk), Pleiku (Gia Lai), Đà Lạt (Lâm Đồng), Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu), Biên Hòa (Đồng Nai), Thủ Dầu Một (Bình Dương), Mỹ Tho (Tiền Giang), Long Xuyên (An Giang). Tiêu chuẩn đô thị loại 2: Đối với đô thị loại 2, căn cứ theo Điều 5 cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí sau đây: 1. Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: a) Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp vùng, cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng liên tỉnh; b) Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này. Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 200.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 100.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ