Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu của tác giả từ bối cảnh nghiên cứu, tính cấp thiết, xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu mà đề tài thực hiện. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Dịch vụ, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ Emoblie banking 2.1 Dịch vụ Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng (Zeithaml & Bitner, 2000). Theo định nghĩa của ISO 9004:1991: “Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng”. Kotler & Armstrong (2004) định nghĩa dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật giá năm 2012, dịch vụ là hàng hóa mang tính vô hình, trong quá trình sản xuất và tiêu dùng không hề tách rời nhau, bao gồm những loại dịch vụ trong hệ thống các ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Như vậy, có thể hiểu: dịch vụ là một hoạt động mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, chúng có tính vô hình, không làm thay đổi quyền sở hữu và có thể được tiến hành nhưng không nhất thiết phải gắn liền với sản phẩm vật chất. Về bản chất: Dịch vụ là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào các yếu tố vô hình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng; Gắn liền với hiệu suất/ thành tích bởi mỗi dịch vụ đều gắn với mục tiêu là mang lại giá trị nào đó cho người tiêu dùng. Hiệu suất ở đây chính là những tiện ích, giá trị và giá trị gia tăng mà khách hàng nhận được sau khi sử dụng dịch vụ; Là một quá trình, nó diễn ra theo một trình tự nhất định bao gồm nhiều giai đoạn, nhiều bước khác nhau.
Trong mỗi giai đoạn đôi khi sẽ có thêm nhiều dịch vụ phụ, dịch vụ cộng thêm. 6 Các đặc điểm dịch vụ: Thứ nhất, tính vô hình. Tính vô hình của dịch vụ thể hiện ở việc dịch vụ là các hoạt động được thực hiện bởi nhà cung cấp, dịch vụ không có những đặc điểm thu hút các giác quan của khách hàng giống như các sản phẩm vật chất thông thường khác, chúng không thể được nhìn, nếm, cảm nhận, ngửi, nghe trước khi mua. Hay nói cách khác, khách hàng tiềm năng không thể cảm nhận được dịch vụ trước khi cung cấp dịch vụ.
Thứ hai, tính không thể tách rời. Các dịch vụ thường được sản xuất và tiêu dùng đồng thời. Đối với hàng hóa vật chất, chúng được sản xuất thành sản phẩm, được phân phối thông qua nhiều trung gian và được tiêu thụ sau đó. Tuy nhiên, trong trường hợp dịch vụ, nó không thể tách rời khỏi nhà cung cấp dịch vụ.
Do đó, nhà cung cấp dịch vụ sẽ trở thành một phần của dịch vụ. Thứ ba, tính dễ hư hỏng. Tính dễ hư hỏng của dịch vụ thể hiện ở việc chúng không thể được lưu trữ để bán hoặc sử dụng sau này. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của dịch vụ, vì nó có thể có tác động lớn đến kết quả tài chính của nhà cung cấp dịch vụ: Trong trường hợp nhu cầu ổn định, tính dễ hư hỏng không phải là một vấn đề quá lớn mà các công ty cung cấp dịch vụ cần phải quan tâm.
Tuy nhiên, trong trường hợp nhu cầu biến động, các công ty dịch vụ có thể gặp khó khăn. Thứ tư, tính thay đổi. Tính thay đổi cũng thuộc về các đặc tính quan trọng của dịch vụ. Nó đề cập đến thực tế là chất lượng của các dịch vụ có thể khác nhau rất nhiều, tùy thuộc vào người cung cấp chúng và khi nào, ở đâu và như thế nào.
Do tính chất sử dụng nhiều lao động của các dịch vụ, có rất nhiều sự khác biệt về chất lượng dịch vụ của các nhà cung cấp khác nhau, hoặc thậm chí bởi cùng một nhà cung cấp tại các thời điểm khác nhau. Cuối cùng, định giá dịch vụ. Quyết định định giá về dịch vụ bị ảnh hưởng bởi tính dễ hư hỏng, sự dao động của nhu cầu và tính không thể tách rời. Chất lượng của một dịch vụ không thể được tiêu chuẩn hóa một cách cẩn thận.
Việc 7 định giá dịch vụ phụ thuộc vào nhu cầu và sự cạnh tranh, nơi có thể sử dụng phương pháp định giá thay đổi.2 Dịch vụ ngân hàng Theo quy định chung của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ GATS của WTO, dịch vụ ngân hàng đến nay vẫn không có khái niệm nhất quán mà được coi như một loại hình dịch vụ tài chính. Cũng theo Hiệp định này, dịch vụ tài chính được hiểu là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính. Kể đến như các dịch vụ ngân hàng, các dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác. Trước xu thế hội nhập quốc tế ngày càng trở nên sâu rộng như hiện nay thì quan niệm về dịch vụ ngân hàng đã được đổi mới phù hợp với thông lệ quốc tế.
Theo đó, khái niệm dịch vụ ngân hàng có thể được hiểu theo nghĩa chung nhất đó là tất cả các hoạt động tiền tệ, thanh toán, tín dụng, ngoại hối… mà ngân hàng thương mại cung ứng cho nền kinh tế nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng và đem lại nguồn thu phí cho chính các ngân hàng thương mại cung ứng dịch vụ. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng: Dịch vụ ngân hàng mang tính vô hình. Dịch vụ của ngân hàng không tồn tại dưới dạng vật chất nên khách hàng khi mua dịch vụ không thể sờ nắm được. Để tăng sự tin tưởng của khách hàng khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thì ngân hàng cần thực hiện nhiều biện pháp tác động tới khách hàng để họ tin rằng họ sẽ thu được nhiều lợi ích khi sử dụng dịch vụ.
Để làm được điều này, hoạt động marketing là vô cùng quan trọng tác động chính vào khách hàng, đi sâu vào tâm lý của họ và hướng tới khách hàng. Dịch vụ ngân hàng không thể tách rời. Trên thực tế, quá trình cung ứng dịch vụ ngân hàng luôn diễn ra đồng thời với quá trình tiêu dùng của khách hàng, họ cũng có mặt khi dịch vụ được thực hiện nên sự tác động qua lại giữa người cung ứng dịch vụ và khách hàng mang tính chất đặc biệt của marketing dịch vụ. Cả nhân viên ngân hàng và khách hàng đều tác động và ảnh hưởng đến kết quả dịch 8 vụ.
Vì thế, các giải pháp marketing không chỉ hướng vào nhân viên ngân hàng mà còn phải nhanh gọn, chính xác với thái độ thiện cảm, thân thiện với khách hàng và phối hợp chặt chẽ với khách hàng hoàn tất quá trình cung ứng dịch vụ. Dịch vụ ngân hàng không lưu trữ được. Dịch vụ ngân hàng không thể sản xuất rồi lưu kho như các sản phẩm thông thường khác nên ngân hàng cần hướng vào việc điều chỉnh nhịp độ cung ứng theo nhịp độ mua bán, rút ngắn quá trình xử lý nghiệp vụ và tăng cường nhân viên cung ứng tại giờ cao điểm. Các nhóm dịch vụ ngân hàng của NHTM: Dựa trên đặc điểm, chiến lược kinh doanh của từng ngân hàng, về cơ bản dịch vụ ngân hàng của NHTM được chia thành 06 nhóm dịch vụ.
Cụ thể như sau: Thứ nhât, Nhóm dịch vụ huy động vốn: Dịch vụ huy động vốn (dịch vụ nhận tiền gửi) là hoạt động truyền thống cơ bản và quan trọng nhất của mọi NHTM. Điều này được thể hiện ở chỗ tiền gửi không chỉ mang lại nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của các NHTM mà nó còn là là tiền nhàn rỗi của xã hội được các ngân hàng huy động và tập trung nhằm mục đích sử dụng cho các yêu cầu của nền kinh tế - xã hội một cách có hiệu quả. Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động còn là cơ sở cho các hoạt động khác trong các NHTM, chẳng hạn như cung cấp tín dụng hay cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác cho khách hàng. Để thu hút được nguồn tiền gửi trong xã hội, các dịch vụ huy động vốn được NHTM cung ứng kể đến như: Tiền gửi thanh toán, Tiền gửi tiết kiệm, Phát hành giấy tờ có giá trị.
Thứ hai, Nhóm dịch vụ tín dụng. Như đã đề cập ở trên, nhóm dịch vụ huy động vốn có chức năng huy động tiền gửi cho các dịch vụ ngân hàng khác, trong số đó phải kể đến là dịch vụ tín dụng. Nguồn vốn huy động được được NHTM sử dụng cho việc cung cấp tín dụng cho các cá nhân, tổ chức thông qua các hình thức như: cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác… Dịch vụ tín dụng có thể được phân thành nhiều loại dựa trên các tiêu chí phân loại khác nhau như: thời hạn tín dụng, mục đích của tín dụng, mức độ tín 9 nhiệm của khách hàng, phân loại khách hàng và phương thức cho vay. Cụ thể: Dựa vào thời hạn tín dụng: Cho vay ngắn hạn; cho vay trung hạn và cho vay dài hạn; Dựa vào mục đích của tín dụng: Cho vay tiêu dùng; cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh; cho vay bất động sản và cho vay sản xuất nông nghiệp; Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng: Cho vay có bảo đảm và cho vay không bảo đảm; Dựa vào phương thức cho vay: Cho vay theo món; cho vay theo hạn mức tín dụng và cho vay theo hạn mức thấu chi; Dựa vào phân loại khách hàng: Cho vay cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác; cho vay doanh nghiệp; Ngoài ra, vẫn còn một số sản phẩm tín dụng khác như: Tín dụng liên kết; bảo lãnh ngân hàng; cho thuê tài chính.
Thứ ba, Nhóm dịch vụ thanh toán: Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng là việc thông qua hệ thống ngân hàng, khách hàng thực hiện việc chi trả các khoản tiền hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác giữa các tác nhân trong nước và quốc tế.