CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ LUẬN VỀ VAR VÀ ỨNG DỤNG ĐO LƯỜNG RỦI RO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Những vấn đề cơ bản về rủi ro thị trường 1. Tổng quan Thị trường chứng khoán “Xét về mặt bản chất thì Thị trường chứng khoán (TTCK) chính là một định chế tài chính trực tiếp, nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm hoặc tạm thời nhàn rỗi, nơi giao dịch các công cụ tài chính của thị trường vốn. Tại đây, các hoạt động phát hành, mua bán trao đổi các loại chứng khoán diễn ra giữa các chủ thể tham gia, dựa trên quy luật cung-cầu”.
Đặng Tài An Trang, 2017). Dưới đây là một số đặc điểm cơ bản của TTCK: Thứ nhất, hàng hoá của TTCK là các loại chứng khoán: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng khoán phái sinh. Chứng khoán có những đặc điểm khác biệt so với các hàng hóa thông thường. Chúng không có những tính năng, tác dụng riêng như các hàng hóa khác, nó là những công cụ chuyển tải giá trị.
Vì vậy, trong phát hành cũng như trong đầu tư mua bán chứng khoán người ta không cần quan tâm đến hình thức của chúng. Điều quan trọng cần nghiên cứu, phân tích, đó là: chứng khoán đó thật hay giả, khả năng sinh lợi và rủi ro tiềm ẩn thế nào, khả năng thanh khoản ra sao. Thứ hai, việc chuyển giao vốn từ người cung sang người cầu trên TTCK sơ cấp được thực hiện chủ yếu bởi cơ chế tài chính trực tiếp. Trong cơ chế tài chính trực tiếp, thay vì được luân chuyển từ người cung vốn qua các trung gian tài chính (như NHTM, công ty tài chính…) rồi mới tới người cầu vốn, nguồn tài chính không dừng lại ở bất kỳ một tổ chức tài chính (TCTT) trung gian nào.
Người có nhu cầu sử dụng vốn phải trả chi phí sử dụng vốn cho người cung vốn. Tuy nhiên, trong hình thức tài trợ trực tiếp, nguồn vốn có thể chuyển tới người có nhu cầu theo 2 hình thức: tài trợ trực tiếp qua trung gian và tài trợ trực tiếp không qua trung gian. Thực tế phát triển TTCK cho thấy, hầu hết các hoạt động phát hành chứng khoán để huy động vốn của các tổ chức phát hành được thực hiện thông qua các hình thức tài trợ trực tiếp qua trung gian hoặc không qua trung gian. 4 Thứ ba, hoạt động mua bán trên TTCK chủ yếu được thực hiện qua người môi giới.
TTCK được cấu thành bởi nhiều bộ phận thị trường, trong đó TTCK tập trung là bộ phận quan trọng. Do hàng hóa của thị trường này là các công cụ chuyển tải giá trị, nên bằng những giác quan thông thường nhà đầu tư (NĐT) khó có khả năng phân biệt được chứng khoán đó có đảm bảo yêu cầu về mặt pháp lý cũng như chất lượng của chúng. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho NĐT, đảm bảo TTCK hoạt động đúng pháp luật, công bằng, công khai và hiệu quả, luật pháp các nước thường quy định hoạt động mua bán chứng khoán trên các thị trường có tổ chức phải thông qua các trung gian, đó là những nhà môi giới chứng khoán đã được cấp phép là thành viên giao dịch của thị trường đó. Các NĐT muốn mua hoặc bán chứng khoán không thể đến thị trường đàm phán để mua bán trực tiếp, mà bắt buộc phải đặt lệnh mua bán qua các nhà môi giới chứng khoán.
Thứ tư, TTCK gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo. TTCK bao gồm nhiều bộ phận thị trường khác nhau, trong đó TTCK tập trung là bộ phận trung tâm. Ở thị trường này, mọi người đều được tự do mua và bán theo nguyên tắc hoạt động của thị trường, không có sự áp đặt giá trên TTCK. Giá chứng khoán được xác định dựa trên quan hệ cung cầu của thị trường và phản ánh các thông tin có liên quan đến chứng khoán.
Thứ năm, TTCK về cơ bản là thị trường liên tục. Sau khi các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp. TTCK đảm bảo cho những người đầu tư có thể chuyển các chứng khoán của họ nắm giữ thành tiền bất cứ lúc nào họ muốn. Cũng vì lý do này, TTCK được coi là vừa gắn với hình thức tài chính dài hạn, vừa gắn với hình thức tài chính ngắn hạn tùy theo nhu cầu của chủ thể tham gia thị trường.
Dựa trên những đặc điểm đã nêu của TTCK, có thể thấy, sức hấp dẫn chủ yếu của kênh đầu tư này nằm ở khả năng hoạt động liên tục cũng như tạo điều kiện cho các nguồn vốn ngắn hạn phát huy vai trò tại các kênh huy động vốn trung và dài hạn. Nói cách khác, dòng tiền được trung chuyển một cách linh hoạt tới các bên cầu vốn, cũng như tạo cơ hội tối đa cho các chủ thể trong nền kinh tế tham gia hoạt động đầu tư. Tổng quan về rủi ro thị trường RRTT là một loại rủi ro xuất phát từ những thay đổi của thị trường bao gồm rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá vàng, giá chứng khoán và giá hàng hóa trên thị 5 trường. RRTT được xác định thông qua các khoản mục chịu rủi ro tỷ giá và rủi ro lãi suất, ngoài ra còn chịu tác động bởi nhiều đại lượng khác không có trên bảng cân đối kế toán.
Hiện nay, có hai phương pháp (PP) để đo lường RRTT là đo lường độ biến động của TSLN và đo lường giá trị chịu rủi ro (VaR) của tài sản tài chính. Trong đó, độ biến động (hay phương sai) là PP đánh giá rủi ro đơn giản và tương đối hiệu quả, được tin dùng bởi rất nhiều TCTT. Mặc dù chỉ số này được như một thông tin quan trọng để đánh giá, so sánh và lựa chọn danh mục đầu tư, song vai trò của nó có thể gần như bị vô hiệu hóa khi thị trường gặp cú sốc lớn, gây ra hiện tượng đột biến về giá cả trong một chu kỳ ngắn. Trong trường hợp này, PP tính toán giá trị rủi ro VaR được xem là hữu ích hơn khi loại trừ được ảnh hưởng của các chỉ số đột biến.
Tổng quan về Giá trị rủi ro (VaR) 1. Khái niệm VaR được định nghĩa là “thước đo tổn thất lớn nhất có khả năng xảy ra đối với giá trị thị trường của các công cụ tài chính cũng như giá trị cả danh mục các công cụ tài chính trong tương lai với một mức xác suất định trước trong một khoảng thời gian nhất định”. Như vậy, ta có thể kết luận rằng thước đo VaR phụ thuộc vào 2 yếu tố chính là kỳ đánh giá và xác suất tổn thất cho trước của danh mục. Mức độ tin cậy phổ biến thường được sử dụng trong đo lường VaR là 95% hoặc 99%, đồng nghĩa với việc xác suất để khoản thua lỗ lớn hơn VaR là 5% hoặc 1%.
Nói một cách khác, VaR là một PP đo lường được tính bằng tiền của khoản lỗ tối đa được dự kiến trong một thời kỳ với một mức độ tin cậy cho sẵn. Ví dụ: Giá trị VaR là 5 triệu $ trong một ngày với độ tin cậy 95% có nghĩa là khoản lỗ không vượt quá 5 triệu $/ngày với độ tin cậy 95%. Đặc điểm VaR có thể áp dụng được với mọi danh mục có tính lỏng (danh mục mà giá trị được điều chỉnh theo thị trường), vì thế nên không thể áp dụng được với các tài sản không có tính lỏng (BĐS, tác phẩm nghệ thuật…). Tất cả mọi tài sản lỏng đều có giá trị không cố định, được điều chỉnh theo thị trường với một quy luật phân bố xác suất nhất định - mọi nguyên nhân rủi ro của thị trường hình thành nên quy luật phân bố xác suất này.
Hữu dụng 6 với tất cả tài sản lòng, chứa đựng mọi nguồn RRTT, do đó VaR là PP đo lường toàn diện đối với RRTT. VaR được xác định dựa trên quy luật phân bố xác suất cho giá trị thị trường của danh mục. Thông thường, sự biến động giá trị của các tài sản lỏng được tuân theo quy luật phân phối chuẩn, với 2 giá trị đặc trưng là mức ý nghĩa (kỳ vọng) và phương sai. VaR có thể áp dụng cho một tài sản cá nhân, một danh mục đầu tư hoặc có thể là dùng cho toàn bộ công ty.
Và từ đó tất nhiên, VaR có thể tính rủi ro cho các đối thủ của công ty. Phương pháp tính toán PP mô phỏng lịch sử. VaR được tính toán mà không cần phải giả thiết giá trị VaR tuân theo phân phối chuẩn, theo đó cách tính này mang tính chất đơn giản. Tuy nhiên kết quả tính toán từ PP này sẽ mang tính chính xác kém hơn.
Ưu điểm của PP này là cho ra kết quả nhanh, khối lượng tính toán ít, phù hợp khi nhà quản trị có một danh mục tài sản tài chính, hay các hợp đồng kỳ hạn với giá trị nhỏ. Khuyết điểm của PP này là kết quả tính VaR kém chính xác, từ đó gây trở ngại đến quá trình quản trị rủi ro. Một khuyết điểm khi không chú ý đến sự biến động rủi ro cùng nhau của các tài sản trong một danh mục. PP Variance – Covariance.
PP này còn gọi là PP phương sai, hiệp phương sai. PP này khắc phục được nhược điểm của PP mô phỏng lịch sử là vừa đáp ứng được tính chính xác, vừa thể hiện được sự biến động rủi ro của cả danh mục bằng ma trận covariance. Ưu điểm của PP này là đảm bảo tính tương quan của các đồng tiền trong danh mục, do đó làm cho VaR được tính chính xác hơn. Nhược điểm là VaR vướng phải một giả định là tuân theo phân phối chuẩn.
PP mô phỏng Monte Carlo. Đây là PP toàn diện nhất trong các PP tính VaR, với một kịch bản các tình huống có thể xảy ra, cộng thêm với nhiều mô phỏng sẽ cho ra kết quả chính xác về phân phối xác suất của VaR. Với sự hỗ trợ của các phần mềm việc tính toán tìm ra VaR ở mức độ tin cậy 95% hay 99% đã trở nên không đáng lo ngại. 7 Ưu điểm là PP này cho kết quả chính xác nhất, vì nó bao hàm những biến động có thể xảy ra trong quá khứ vào kết quả tính toán VaR.
Nhược điểm của PP này là đòi hỏi khối lượng tính toán nhiều. Nhưng với sự phát triển của vô số các phần mềm hiện nay thì việc tính toán đã không còn là trở ngại lớn, nên PP này nên được sử dụng rộng rãi để có thể tính toán VaR chính xác nhất.