Chương 1: TỔ CHỨC KHAI THÁC ĐỘI TÀU BIỂN 1. Tổng quan về vận tải biển 1. Cơ sở vật chất của vận tải biển Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật VTB gồm nhiều bộ phận cấu thành tùy thuộc điều kiện tự nhiên và phạm vi lãnh hải của mỗi nước, trong đó các tuyến đường biển và cảng biển đóng vai trò quan trọng tạo nên mạng lưới VTB trên toàn thế giới. Tuyến đường biển Các tuyến đường vận tải biển là những tuyến đường giao thông trên biển hình thành giữa hai hay nhiều cảng với nhau nhằm phục vụ di chuyển của tàu, thuyền vận chuyển hàng hóa, hành khách.
Tuyến đường VTB có nhiều loại theo các cách phân loại khác nhau: - Theo phạm vi hoạt động: Tuyến nội địa (dành cho tàu, thuyền hoạt động trong lãnh hải của 1 quốc gia); tuyến quốc tế (hoạt động trên lãnh hải của nhiều quốc gia); - Theo mục đích sử dụng: Tuyến VTB định tuyến phục vụ tàu VTB trên tuyến cố định (theo hình thức tàu định tuyến); tuyến VTB không định tuyến (dành cho tàu VTB theo hình thức chạy rông đáp ứng các yêu cầu VT bất thường); tuyến VTB đặc biệt (dành cho mục đích đặc biệt trong hàng hải, ví dụ tàu vận chuyển phục vụ khai thác dầu, thăm dò, an ninh quốc phòng.) Thực tế, không có đường cố định của quá trình di chuyển tàu trên biển vì còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể để xác định chính xác vị trí và hướng di chuyển của tàu, thuyền. Vấn đề lựa chọn hải trình tối ưu cần căn cứ vào điều kiện về khí tượng (gió, sương mù, lốc xoáy, băng trôi); thủy văn (dòng hải lưu và sóng); chướng ngại nguy hiểm (bãi đá ngầm,.); phòng tránh va chạm (tầm nhìn trên biển,.); đặc tính kỹ thuật của tàu (cấp tàu, tình trạng hàng hóa, mớn nước,.); các tuyến đã được xác định theo khuyến nghị (khuyến nghị trong ‘Đường chạy tàu trên thế giới”- Ocean Passage for the World) và tuyến theo phân luồng giao thông. Việc phân định tuyến đường biển nội thủy hay quốc tế liên quan đến lãnh hải của mỗi nước. Theo Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển (1982), các quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải không quá 12 hải lý (khoảng 22,2 km) tính từ đường cơ sở (đường tiếp giáp thực tế của đất và nước hay đường thẳng nối hai điểm thuộc đất liền được chọn khi chúng nổi lên trên mặt nước và xa bờ nhất khi mực nước thủy triều là thấp nhất, đo trung bình nhiều năm dọc theo bờ biển, ngoại trừ các khu vực mà hai hay nhiều quốc gia có chung biên giới biển rất gần nhau).
Ranh giới phía ngoài của lãnh hải được tính là đường biên giới quốc gia. Vùng đặc quyền kinh tế tính từ đường cơ sở trong khoảng 200 hải lý. Đường cơ sở: Đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của nội thủy làm cơ sở xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia gồm (lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa). Lãnh hải (hải phận): Vùng biển ven bờ nằm giữa vùng nước nội thủy và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, 12 hải lý tính từ đường cơ sở (1 hải lý = 1.
Chủ quyền của quốc gia đối với vùng lãnh hải không phải là tuyệt đối như đối với các vùng nước nội thủy, do có sự thừa nhận quyền qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải. Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ): Vùng biển mở rộng từ các quốc gia ven biển, khoảng 200 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển. Quốc gia ven biển có quyền về chủ quyền, quyền tài phán và quyền kinh tế ở vùng biển này. Quyền chủ quyền về kinh tế gồm các quyền khai thác tài nguyên sinh vật, tài nguyên không sinh vật của cột nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.
Mọi tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn khai thác tài nguyên trên vùng đặc quyền kinh tế phải có sự xin phép và đồng ý của quốc gia ven biển. Quyền tài phán trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển gồm quyền lắp đặt, sửa chữa các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị trên biển; các hoạt động nghiên cứu khoa học biển; bảo vệ môi trường. Các nước khác có quyền tự do bay, tự do hàng hải và đặt dây cáp, ống dẫn ngầm tại vùng đặc quyền kinh tế. Thềm lục địa: Vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của Quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn 200 hải lý.
Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên, các quốc gia khác không có quyền tiến hành khi chưa được sự cho phép. Cảng biển Cảng biển là nơi tàu thuyền ra-vào, neo đậu, tổ chức dịch vụ phục vụ tàu và phục vụ vận chuyển, trung chuyển hàng hóa hành khách. Các chức năng chủ yếu: - Phục vụ công tác xếp –dỡ hàng hóa và chỗ tránh bão, sửa chữa, cung ứng cho tàu biển; - Tập kết, bảo quản, phân loại hàng hóa, thực hiện các thủ tục giao nhận trong vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, trung chuyển giữa tàu biển và các phương tiện khác; Các thiết bị chủ yếu: - Thiết bị phục vụ tàu: luồng tàu, cầu tàu, phao tiêu, tín hiệu hàng hải, - Thiết bị phục vụ xếp –dỡ; bảo quản hàng hóa; - Thiết bị hỗ trợ hàng hải: thông tin liên lạc, điện, … Luồng lạch Ngành hàng hải sử dụng khái niệm luồng lạch để nói đến một đường nước có đủ độ sâu và độ rộng tối thiểu cho việc lưu thông qua lại của mọi loại tàu bè ra -vào cảng biển. Với độ sâu và bề rộng nhất định, mỗi luồng lạch cho phép và đảm bảo an toàn cho các tàu có kích thước, tải trọng phù hợp ra –vào cảng để phục vụ cho quá trình VTB.
Phương tiện Phương tiện hàng hải gồm các loại tàu, thuyền hoặc cấu trúc nổi di động dùng để hoạt động trên biển nhằm mục đích vận chuyển hàng hóa, hành khách hoặc phục vụ nhiệm vụ khác. Tàu là danh từ chỉ chung các loại phương tiện hàng hải. - Theo Hague Rule: Tàu là bất kỳ tàu nào được dùng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển; - Theo Công ước quốc tế về trách nhiệm và bồi thường tổn thất liên quan đến VTB (1996): Tàu là bất kỳ tàu biển và bất kỳ các loại tàu vận chuyển đường biển; - Theo Luật Hàng hải (2005): Tàu biển là tàu hoặc cấu trúc nổi di động khác chuyên dùng hoạt động trên biển (không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ , tàu cá,). Nhằm vận chuyển hàng hóa phục vụ hoạt động thương mại toàn cầu, tàu VTB tổ chức khai thác theo các hình thức đội tàu định tuyến, tàu chuyến.
Cơ khí hàng hải Các doanh nghiệp dịch vụ cơ khí hàng hải đảm nhiệm công tác kiểm tra kỹ thuật, bảo dưỡng, sửa chữa, đóng mới tàu, phương tiện nổi và các hệ thống hỗ trợ hàng hải. Hệ thống Thông tin hàng hải Hệ thống thông tin cứu nạn và an toàn hàng hải toàn cầu (GMDSS- Global Maritime Distress and Safety System) được các nước thành viên Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) thông qua năm 1988 dưới dạng sửa đổi Công ước an toàn và sinh mạng trên biển (SOLAS 74/88). GMDSS có hiệu lực từng phần từ 1/2/1992 và hiệu lực đầy đủ từ 1/2/1999; áp dụng cho tất cả các tàu thuyền (khách, hàng) có tải trọng 300 T trở lên hoặc tàu chạy tuyến quốc tế. GMDSS thực hiện 3 chức năng thông tin: phục vụ tìm kiếm và cứu nạn hàng hải; phục vụ mục đích an toàn hàng hải; phục vụ mục đích thương mại và khai thác tàu.
Phân loại tàu biển a, Phân loại theo mục đích sử dụng Theo mục đích sử dụng, các tàu biển phân loại thành các loại: - Tàu buôn (Merchant Ship) dùng để vận chuyển hàng hóa, hành khách. - Tàu phục vụ đặc biệt cho hoạt động cứu hộ, kiểm soát và bảo vệ môi trường, phục vụ nghiên cứu khoa học, hoạt động thể thao; tàu quân sự và các mục đích khác; b, Phân loại theo chức năng Theo chức năng, tàu biển phân loại thành các loại: - Tàu hàng khô, tàu hàng lỏng, container, hàng rời; - Tàu chở khách, tàu phục vụ kỹ thuật (phục vụ công trình thủy như tàu hút, tàu cuốc, lặn,,) - Tàu lai (kéo, đẩy), tàu phục vụ ở vùng cảng, vùng neo đậu; c,Tàu chở hàng lỏng (tanker) Là tàu chở dầu và các loại khí hóa lỏng, nhóm tàu này bao gồm bốn loại chính: - Tàu chở dầu thô (Crude Oil tanker); - Tàu chở các sản phẩm từ dầu (Oil product tanker); - Tàu chở khí gas hóa lỏng (Liquefied gas carrier); - Tàu chở hóa chất lỏng (Chemical carrier). Tàu chở dầu thô được thiết kế để chở các loại nguyên liệu thô của ngành công nghiệp dầu khí từ quốc gia sản xuất đến quốc gia lọc dầu và chế biến dầu. Tàu dầu được phân loại dựa trên khối lượng hàng mà tàu có thể chuyên chở, khả năng vận chuyển của tàu được đo bằng DWT (tấn trọng tải tàu).
Tàu chở dầu thô được phân loại như sau: - Tàu chở dầu thô siêu lớn ULCC (Ultra Large Crude Carrier): > 300.000 Dwt - Tàu chở dầu thô cỡ lớn VLCC (Very Larger Crude Carrier): 200.999 Dwt - Tàu chở dầu thô cỡ trung bình: 70.999 Dwt - Tàu Panamax: Phân cấp tàu dầu giới hạn qua kênh Panama (Panama). - Tàu Aframax: Phân cấp tàu dầu được dùng tại tại Địa Trung Hải, Biển Đen và China Sea. Giới hạn từ 80. - Tàu Suezmax: cũng như Panamax, tên Suezmax là dành cho loại tàu có thể dễ dàng đi qua kênh Suez-Ai Cập.
Tàu chở dầu thô là tàu 1 tầng boong nhưng với sự thay đổi của các quy tắc quốc tế, hiện nay tàu chở dầu phải có cấu trúc đáy tàu thuộc dạng “vỏ đôi” để đảm bảo an toàn. d, Tàu hàng bách hóa khô Tàu chở hàng bách hóa chở được nhiều loại hàng khô khác nhau, chủ yếu là vận chuyển các loại hàng thành phẩm và bán thành phẩm từ các nhà máy sản xuất. Thông thường các loại hàng này được vận tải thành từng đợt lớn theo hợp đồng. Đôi khi các tàu này là tàu hỗn hợp vừa vận chuyển hàng bách hóa vừa vận chuyển container.