chương 1 , chúng tôi đã phân công công việc cho từng thành viên trong nhóm , mỗi thành viên đều đã xác đinh được các công việc , công nghệ cần tìm hiểu , để hoàn thành tốt công việc của mình. Sinh viên thực hiên : Đào Thị Thu Lớp CNPM_K48 1 4 Xây dựng ontology sinh báo cáo tự động cho hệ thống BKS Chương 2 : Tổng quan về Ontology 2.1 Giới thiệu Ontology Năm 1991 tổ chức ARPA đã đề xuất một cải tiến mới trong việc xây dựng một hệ thống thông minh. Họ đã đề xuất ra rằng ,xây dựng một hệ cơ sơ tri thức ngày nay thường kết thúc bằng việc tạo ra một cơ sở tri thức mới từ những thông tin rải rác thu nhập được , nên có thể tái sử dụng tri thức. Người phát triển hệ thống chỉ cần quan tâm đến lĩnh vực của họ với các bộ suy diễn thực hiện nhiệm vụ đó.
Do đó dễ dàng xây dựng hệ thống lớn , it tốn kém hơn. Từ đó họ đã phát triển một cơ sở khái niệm để xây dựng kỹ thuật cho phép tái sử dụng và chia sẻ tri thức , Ontology được phát triển từ đó. Ontology đã có sự phát triển hết sức mạnh mẽ , không chỉ trong phòng thí nghiệm nghiên cứu ,mà nó đã được coi là một công cụ hết sức đắc lực cho các chuyên gia trong hầu hết mọi lĩnh vực .Ontology đã xuất hiện trên Web ,tổ chức World Wide Web ,một trong những tổ chức đề xuất và phát triển XML đã và đang phát triển RDF –một ngôn ngữ cho phép mô tả tri thức trên Web giúp trang web có thể hiểu được bởi các Agent tìm kiếm thông tin. Hiện nay , rất nhiều các quy định nhằm chuẩn hóa các Ontology để các chuyên gia có thề dùng chhia sẻ ,giải thích tri thức trong lĩnh vức của họ như y tế , nguồn nhân lực….2 Ontology và các vấn đề liên quan đến việc xây dựng Ontology: Ontology là một mô hình dữ liệu trình bày một tập các khái niệm trong một miền và mối quan hệ giữa các khái niệm đó.
Nó được sử dụng để lập luận về các đối tượng trong miền đó. Ngày nay, Ontology được sử dụng rất nhiều trong các lĩnh vực liên quan đến ngữ nghĩa như trí tuệ nhân tạo , semantic web, công nghệ phần mềm, v.v… Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày tổng hợp về một số các phương pháp xây dựng Ontology, giới thiệu , đánh giá một số bộ công cụ hỗ trợ Ontology và các ngôn ngữ Ontology hiện nay. Sau quá trình tìm hiểu, so sánh và đánh giá nhằm tìm ra lựa chọn phù hợp với việc xây dựng Ontology sinh báo cáo chứng khoán tự động được trình bày ở mục sau. Tổng quan về Ontology 2.1 Tổng quan về web ngữ nghĩa Sinh viên thực hiên : Đào Thị Thu Lớp CNPM_K48 1 5 Xây dựng ontology sinh báo cáo tự động cho hệ thống BKS World Wide Web (gọi tắt là Web) ra đời năm 1989 bởi Tim Berners-Lee đã trở thành một phương tiện trao đổi thông tin cực kì rộng lớn giữa mọi người trên thế giới.
Lượng thông tin số được truyền tải trên Web có số lượng cực lớn và vô cùng phong phú, bao gồm rất nhiều định dạng, thể loại: từ kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị đến giải trí, tin tức, trao đổi thông tin,. Hầu hết nội dung Web ngày nay chỉ thích hợp cho con người sử dụng. Tức là chỉ con người mới hiểu được ý nghĩa của nội dung đó và lọc ra theo ý muốn của mình để sử dụng. Gắn liền với Web là HTML (Hyper Text Markup Language), một ngôn ngữ đánh dấu được sử dụng để hiển thị nội dung trên trang web.
Sử dụng HTML , chúng ta có thể dễ dàng yêu cầu máy tính thể hiện một đoạn text theo kiểu đậm hay đổi màu chữ nhưng không thể cho máy tính biết được đó là đoạn text về một người hay một địa danh. Công nghệ Web ngữ nghĩa ra đời (cũng từ ý tưởng của Tim Berners-Lee) cho phép biểu diễn và trao đổi thông tin với đầy đủ ý nghĩa của chúng, tạo ra khả năng xử lý tự động dữ liệu trên Web. Tim Berners-Lee định nghĩa như sau: “Semantic Web như một sự mở rộng của web hiện tại mà trong đó thông tin được xử lý một cách tự dộng bằng máy tính, làm cho máy tính và con người có thể hợp tác với nhau”. Web ngữ nghĩa thường được mô tả dưới dạng các “lớp bánh” (layer cake) như hình dưới đây: Hình 2.1 : Mô hình Semantic web Sinh viên thực hiên : Đào Thị Thu Lớp CNPM_K48 1 6 Xây dựng ontology sinh báo cáo tự động cho hệ thống BKS Lớp Unicode & URI: nhằm bảo đảm việc sử dụng tập kí tự quốc tế và cung cấp phương tiện nhằm định danh các đối tượng trong Semantic Web.
Lớp XML cùng với các định nghĩa về namespace và schema (lược đồ) bảo đảm rằng chúng ta có thể tích hợp các định nghĩa Semantic Web với các chuẩn dựa trên XML khác. Lớp RDF [RDF] và RDFSchema [RDFS] : ta có thể tạo các phát biểu (statement) để mô tả các đối tượng với những từ vựng và định nghĩa của URI, và các đối tượng này có thể được tham chiếu đến bởi những từ vựng và định nghĩa của URI ở trên. Đây cũng là lớp mà chúng ta có thể gán các kiểu (type) cho các tài nguyên và liên kết. Và cũng là lớp quan trọng nhất trong kiến trúc Semantic Web.
Lớp Ontology: hỗ trợ sự tiến hóa của từ vựng vì nó có thể định nghĩa mối liên hệ giữa các khái niệm khác nhau. Lớp Digital Signature: được dùng để xác định chủ thể của tài liệu (vd: tác giả của một tài liệu hay một lời tuyên bố). Các lớp Logic, Proof, Trust: đang trong giai đoạn nghiên cứu và các thể hiện của các ứng dụng giản đơn đang được xây dựng. Lớp Logic cho phép viết ra các luật (rule) trong khi lớp Proof thi hành các luật và cùng với lớp Trust đánh giá nhằm quyết định ứng dụng nên hay không nên tin tưởng/chấp nhận (trust) chứng cớ (proof).
Ontology tạo nên xương sống cho Web ngữ nghĩa. Nó cho phép máy tính hiểu được thông tin qua sự liên kết giữa thông tin và các khái niệm trong Ontology, ngoài ra còn là sự giao tiếp giữa các thông tin qua sự liên kết trong Ontology hay giữa các Ontology. Ontology sẽ được giải thích chi tiết qua các phần dưới. Lớp trên cùng là các ứng dụng chạy trên nền Web ngữ nghĩa và cung cấp giao diện với người sử dụng, đưa cho họ thông tin cần thiết theo yêu cầu.2 Khái niệm ontology Ontotlogy là chìa khóa đối với semantic web , vì chúng cung cấp một tập từ vựng và ngữ nghĩa chú thích.
Khái niệm Ontology bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ gồm hai từ ontos và logos .Được giới thiệu vào thế kỷ 19 bởi một nhà triết học người Đức , nghĩa của nó là “ bản thể học ”. Theo cách nhìn của triết học :”Đó là một môn khoa học về nhận thức ,cụ thể hơn là một nhánh của siêu hình học về tự nhiên và bản chất của thế giới ,nhằm xem xét các vấn đề về sự tồn tại hay không tồn tại của các sự vật ”. Trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo có rất nhiều định nghĩa về Ontology , Ontology phát triển trong trí tuệ nhân tạo để tri thức dễ dàng chia sẻ và tái sử dụng tri thức. Kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX , Ontology đã trở thành đề tài nghiên cứu phổ Sinh viên thực hiên : Đào Thị Thu Lớp CNPM_K48 1 7 Xây dựng ontology sinh báo cáo tự động cho hệ thống BKS biến đối với các tổ chức nghiên cứu trí tuệ nhân tạo về tri thức , xử lý ngôn ngữ tự nhiên , hình ảnh , y tế.
Gần đây khái niệm Ontology đã trở nên phổ biến hơn nhiều trong các lĩnh vực như những hệ thống thông tin hợp tác , phục hồi thông tin , quản lý tri thức. Mục đích của ontology là hướng đến tri thức miền , nên sự phát triển của nó thường là một quá trình xử lý kéo theo nhiều yếu tố khác. Từ lúc ra đời đến nay ,Ontology có rất nhiều định nghĩa , một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về Ontology là : “Một Ontology là một đặc tả chính xác và hình thức về một khái niệm của một miền thông tin được quan tâm ” (c. Định nghĩa này nhấn mạnh hai điểm chính: Đó là các khái niệm được hình thức hóa và bởi vậy cho phép suy diễn (reasoning) bởi máy tính.
Thứ hai nó nhấn mạnh mỗi Ontology được xây dựng cho một vài miền thông tin cần quan tâm , có như thế nó mới thể hiện được vai trò và tác dụng của nó. Ontology thể hiện sự hiểu biết chung về một miền, các ứng dụng có thể dùng sự hiểu biết chung này để giao tiếp với nhau. Hiện nay có nhiều ontology lớn như : DOLCE (Descriptive Ontology for Linguistic and Cognitive Engineering) Cyc : SUMO (Suggested Upper Merged Ontology) Basic Formal Ontology(BFO) General Formal Ontology (GFO) Wordnet Biomedical Ontology 2.3 Vai trò Ontology 2. Phát triển ontology Ontology là hệ biểu diễn ngữ nghĩa nên cung cấp khả năng hiểu tri thức cho máy tính, tạo điều kiện xây dựng các hệ thống xử lý tự động.
Ontology có khả năng tích hợp. Điều này cho phép những Ontology về các miền thông tin khác nhau có thể tích hợp, trộn lẫn, ánh xạ với nhau, tạo sự liên giao tiếp giữa các ứng dụng khác nhau. Ontology có thể dùng lại. Điều này giúp cho việc xây dựng Ontology mới được giảm nhẹ công sức, đồng thời tạo ra khả năng mở rộng dịch vụ của các ứng dụng một cách dễ dàng nhất là dịch vụ Web (Web services) Sinh viên thực hiên : Đào Thị Thu Lớp CNPM_K48 1 8 Xây dựng ontology sinh báo cáo tự động cho hệ thống BKS Ontology có thể được chia sẻ bởi nhiều ứng dụng, không phụ thuộc nền hệ điều hành.
Một ứng dụng trên hệ Unix có thể hoàn toàn sử dụng dữ liệu trong Ontology được xây dựng bởi ứng dụng trên hệ Windows. Ontology có thể giải quyết vấn đề đa ngôn ngữ. Các ứng dụng có thể xử lý dữ liệu được viết bởi các ngôn ngữ khác nhau (ví dụ tiếng Anh và tiếng Pháp) một cách giống nhau với một Ontology ánh xạ các thuộc tính của các ngôn ngữ này đến cùng một ngữ nghĩa. Ví dụ của ứng dụng này là trong tìm kiếm đồng thời trên nhiều ngôn ngữ.
Ontology biểu diễn theo ngữ nghĩa con người nên người dùng hoàn toàn hiểu được và có thể soạn thảo, tinh lọc, tùy biến Ontology theo ý muốn.