Đặt vấn đề Hiện nay trên thế giới có nhiều phương pháp để xử lý các hợp chất phenol, một trong những phương pháp quan trọng đã và đang hứa hẹn đem đến những thành tựu to lớn cho con người đó là phương pháp quang xúc tác. Phương pháp này có nhiều ưu điểm nổi trội như hiệu quả xử lý cao và có khả năng khoáng hóa hoàn toàn các hợp chất hữu cơ độc hại thành các hợp chất vô cơ ít độc hơn. Chất được sử dụng rộng rãi làm xúc tác quang hóa là TiO2, tuy nhiên chất này chỉ phát huy tối đa hiệu quả xúc tác dưới tác dụng của bức xạ UV, điều đó gây khó khăn cho việc ứng dụng vào thực tiễn. Một vài nghiên cứu gần đây trên vật liệu TiO2 được cấy thêm một số nguyên tố khác đã chỉ ra rằng vật liệu mới có khả năng xúc tác ngay trong vùng ánh sáng khả kiến.
Trên những cơ sở khoa học và thực tiễn đó chúng tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu tổng hợp vật liệu Ag-TiO2 và Ag - TiO2/bentonit”.2 Mục tiêu nghiên cứu - Tổng hợp xúc tác Ag-TiO2 và đưa lên giá thể là bentonit. - Nghiên cứu các tính chất của vật liệu xúc tác Ag-TiO2 và Ag-TiO2/bentonit bằng các phương pháp hiện đại.3 Phương pháp nghiên cứu - Xúc tác được tổng hợp theo phương pháp sol-gel. - Đánh giá kết quả thu được và đưa ra nhận xét cho đối tượng nghiên cứu. Chuyên ngành Hóa dầu Trang 1 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đồ án tốt nghiệp đại học-Khóa 2008 – 2012 Trường Đại Học Bà Rịa-Vũng Tàu CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.
Cấu trúc của vật liệu TiO2 TiO2 trong tự nhiên tồn tại ba dạng thù hình khác nhau là rutile, anatase, và brookite (hình 2. Cả ba dạng tinh thể này đều có chung một công thức hóa học TiO2, tuy nhiên cấu trúc tinh thể của chúng là khác nhau. Hằng số mạng, độ dài liên kết Ti-O, và góc liên kết của ba pha tinh thể được trình bày trong bảng 2. Titanium (IV) oxide (II) có một pha bền đó là pha rutile và hai pha giả bền là anatase và brookite.
Cả hai pha giả bền chuyển thành pha rutile khi vật liệu được nung ở nhiệt độ trên 700oC [9] (915oC cho pha anatase và 750oC cho pha brookite). Các dạng thù hình khác nhau của TiO2: (A) rutile, (B) anatase, (C) brookite. Cấu trúc mạng lưới tinh thể của rutile, anatase và brookite đều được xây dựng từ các đa diện phối trí tám mặt TiO6 nối với nhau qua cạnh hoặc qua đỉnh oxy chung (hình 2. Mỗi ion Ti4+ được bao quanh bởi tám mặt tạo bởi sáu ion O2-.
Chuyên ngành Hóa dầu Trang 2 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đồ án tốt nghiệp đại học-Khóa 2008 – 2012 Trường Đại Học Bà Rịa-Vũng Tàu Hình 2. Khối bát diện của TiO2. Các mạng lưới tinh thể của rutile, anatase và brookite khác nhau bởi sự biến dạng của mỗi hình tám mặt và cách gắn kết. Pha rutile và anatase lần lượt chứa 6 và 12 nguyên tử tương ứng trên một ô đơn vị.
Trong cả hai cấu trúc, mỗi cation Ti4+ được phối trí với sáu anion O2- và mỗi anion O2- được phối trí với ba cation Ti4+. Trong mỗi trường hợp nói trên khối bát diện TiO6 bị biến dạng nhẹ, với hai liên kết Ti-O lớn hơn một chút so với bốn liên kết còn lại và một vài góc liên kết lệch khỏi 90o. Sự biến dạng này thể hiện trong pha anatase rõ hơn trong pha rutile. Mặt khác, khoảng cách Ti-Ti trong anatase lớn hơn trong rutile nhưng khoảng cách Ti-O trong anatase lại ngắn hơn so với rutile.
Điều này ảnh hưởng đến cấu trúc điện tử của hai dạng tinh thể, kéo theo sự khác nhau về các tính chất vật lý và hóa học. Cấu trúc tinh thể của TiO2: (a) rutile, (b) anatase. Chuyên ngành Hóa dầu Trang 3 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đồ án tốt nghiệp đại học-Khóa 2008 – 2012 Trường Đại Học Bà Rịa-Vũng Tàu Các thông số Rutile Anatase Cấu trúc tinh thể Tứ diện Tứ diện Thông số a=b (Ao) 4,58 3,78 mạng c (Ao) 2,95 9,49 Khối lượng riêng (g/cm3) 4,25 3,895 Chiết suất 2,75 2,54 Độ rộng vùng cấm (eV) 3,05 3,25 Nhiệt độ cao chuyển Nhiệt độ nóng chảy 1830-1850 oC thành rutile o Độ dài liên kết Ti-O (A ) 1,94 1,95 Bảng 2. Một số tính chất vật lý của tinh thể rutile và anatase.
Pha brookite có cấu trúc phức tạp, độ dài của liên kết Ti-O cũng khác nhiều so với các pha anatase và rutile [11]. Có rất ít tài liệu nghiên cứu về pha brookite. Cấu trúc tinh thể của TiO2: brookite. Tất cả các dạng tinh thể đó của TiO2 tồn tại trong tự nhiên như là các khoáng, nhưng chỉ có rutile và anatase ở dạng đơn tinh thể là được tổng hợp ở nhiệt độ thấp.
Hai pha này cũng được sử dụng trong thực tế làm chất màu, chất độn, chất xúc tác. Các mẫu TiO2 phân tích trong các nghiên cứu hiện nay bắt đầu được tổng hợp từ pha anatase và trải qua một quy trình nung để đạt được pha rutile bền [10]. Brookite cũng quan trọng về mặt ứng dụng, tuy vậy bị hạn chế bởi việc điều chế brookite sạch không lẫn rutile hoặc anatase là điều khó khăn. Mặt khác, do vật liệu màng mỏng và hạt nano TiO2 chỉ tồn tại ở dạng thù hình anatase và rutile, hơn nữa khả năng xúc tác quang của brookite hầu như không có nên ta sẽ không xét đến pha brookite trong phần còn lại của đề tài.
Chuyên ngành Hóa dầu Trang 4 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đồ án tốt nghiệp đại học-Khóa 2008 – 2012 Trường Đại Học Bà Rịa-Vũng Tàu 2. Tính chất quang của vật liệu TiO2 Cấu trúc điện tử của chất bán dẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang xúc tác. Không giống như một chất dẫn điện, một chất bán dẫn bao gồm vùng dẫn (CB - Conduction Band) và vùng hóa trị (VB - Valence Band). Năng lượng khác biệt giữa hai mức này được gọi là năng lượng vùng cấm (Eg).
Nếu không có sự kích thích, điện tử lấp đầy vùng hóa trị, còn vùng dẫn trống. Khi chất bán dẫn được kích thích bởi các photon với năng lượng bằng hoặc cao hơn mức năng lượng vùng cấm, các điện tử nhận được năng lượng từ các photon sẽ chuyển dời từ vùng VB lên CB. Đối với chất bán dẫn TiO2, quá trình được thể hiện như sau: Như chúng ta đã biết năng lượng vùng cấm của anatase và rutile tương ứng là 3,2 và 3,0 eV tại nhiệt độ phòng.5 trình bày phổ quang dẫn của màng anatase và rutile. Kết quả trên hình 1.5 cho thấy năng lượng ngưỡng quang dẫn của màng anatase cao hơn màng rutile.
Đây là quang dẫn do kích thích vùng và kết quả là năng lượng ngưỡng gần như phù hợp với năng lượng vùng cấm quang học. Cấu trúc vùng năng lượng của pha rutile được nghiên cứu rộng rãi. TiO2 rutile có vùng cấm thẳng (3,0 e V ). Còn bờ hấp phụ của tinh thể anatase được xác định là 3,2 eV tại nhiệt độ phòng và mở rộng tới 3,3 eV tại 4oK.
5 4 3 Rutile 2 Anatase 1 0 2,8 3,0 3,2 3,4 3,6 3,8 4,0 Năng lượng photon (eV) Hình 2. Phổ quang dẫn của màng anatase và rutile. Chuyên ngành Hóa dầu Trang 5 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đồ án tốt nghiệp đại học-Khóa 2008 – 2012 Trường Đại Học Bà Rịa-Vũng Tàu Tính chất quang học của từng pha là tương đồng, tuy nhiên có một số khác biệt nhỏ, ví dụ như bờ hấp phụ của chúng khác nhau. Bằng phương pháp thực nghiệm, người ta đã quan sát thấy rằng trong màng mỏng cấu trúc anatase có độ linh động cao hơn so với cấu trúc rutile [9].
Mặc dù cả ba dạng đều thể hiện tính chất quang nhưng anatase là cấu trúc được ưu tiên hơn trong quá trình quang xúc tác. Tính chất quang xúc tác Năm 1930, khái niệm quang xúc tác ra đời. Trong hóa học nó dùng để nói đến những phản ứng xảy ra dưới tác dụng đồng thời của ánh sáng và chất xúc tác, hay nói cách khác, ánh sáng chính là nhân tố kích hoạt chất xúc tác, giúp cho phản ứng xảy ra. Khi có sự kích thích của ánh sáng, trong chất bán dẫn sẽ tạo ra cặp điện tử - lỗ trống và có sự trao đổi electron giữa các chất bị hấp phụ, thông qua cầu nối là chất bán dẫn.
Bằng cách như vậy, chất xúc tác quang làm tăng tốc độ phản ứng quang hóa, cụ thể là tạo ra một loạt quy trình giống như phản ứng oxy hoá - khử và các phân tử ở dạng chuyển tiếp có khả năng oxy hoá - khử mạnh khi được chiếu bằng ánh sáng thích hợp. Cơ chế phản ứng xúc tác quang dị thể Quá trình xúc tác quang dị thể có thể được tiến hành ở pha khí hoặc pha lỏng. Cũng giống như các quá trình xúc tác dị thể khác, quá trình xúc tác quang dị thể được chia thành các giai đoạn như sau: (1). Khuếch tán các chất tham gia phản ứng từ pha lỏng hoặc khí đến bề mặt chất xúc tác.
Hấp phụ các chất tham gia phản ứng lên bề mặt chất xúc tác. Hấp phụ photon ánh sáng, sinh ra các cặp điện tử - lỗ trống trong chất xúc tác, và khuyếch tán đến bề mặt vật liệu. Phản ứng quang hóa, được chia làm hai giai đoạn nhỏ: - Phản ứng quang hóa sơ cấp, trong đó các phân tử chất xúc tác bị kích thích (các phân tử chất bán dẫn) tham gia trực tiếp vào phản ứng với các chất hấp phụ lên bề mặt. - Phản ứng quang hóa thứ cấp, còn gọi là giai đoạn phản ứng “tối” hay phản ứng nhiệt, đó là giai đoạn phản ứng của các sản phẩm thuộc giai đoạn sơ cấp.
Nhả hấp phụ các sản phẩm. Khuếch tán các sản phẩm vào pha khí hoặc lỏng. Tại giai đoạn (3), phản ứng xúc tác quang hoá khác phản ứng xúc tác truyền thống ở cách hoạt hóa xúc tác. Trong phản ứng xúc tác truyền thống, xúc tác được hoạt hóa bởi Chuyên ngành Hóa dầu Trang 6 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đồ án tốt nghiệp đại học-Khóa 2008 – 2012 Trường Đại Học Bà Rịa-Vũng Tàu nhiệt còn trong phản ứng xúc tác quang hóa, xúc tác được hoạt hóa bởi sự hấp phụ ánh sáng.
Điều kiện để một chất có khả năng xúc tác quang: - Có hoạt tính quang hóa. - Có năng lượng vùng cấm thích hợp để hấp phụ ánh sáng tử ngoại hoặc ánh sáng nhìn thấy. Quá trình ban đầu của xúc tác quang dị thể với chất hữu cơ và vô cơ bằng chất bán dẫn (Semiconductor Catalyst) là sự sinh ra của cặp điện tử - lỗ trống trong chất bán dẫn.