Đặt vấn đề Ngày nay xã hội ngày càng hiện đại và phát triển. Đi cùng với đó là những nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao. Đối với nhân viên công sở nhiều người dành đến 40 giờ một tuần trong văn phòng và trong thời gian đó, họ dành phần lớn thời gian tại bàn làm việc dựa chủ yếu vào công thái học của chiếc ghế văn phòng. Dành khoảng thời gian này cho một chiếc ghế kém chất lượng có thể dẫn đến các loại vấn đề dài hạn và ngắn hạn về sức khỏe.
Để đạt được hiệu quả tối ưu và nâng cao năng suất làm việc cũng như hạn chế các bệnh về xương khớp thì nhiệm vụ của ngành Nội thất là thiết kế ra một chiếc ghế đáp ứng được nhu cầu trên. Với vị trí địa lý nằm ở khí hậu nhiệt đới, lãnh thổ Việt Nam được thiên nhiên ban tặng những cánh rừng xanh bạt ngạt. Trong đó, gỗ là nguyên liệu trọng yếu cho ngành Nội thất nói riêng và ngành Chế biến Lâm sản nói chung. Thông qua các thiết kế sẽ thổi hồn vào gỗ để tạo nên những sản phẩm mang lại giá trị kinh tế và lợi ích cho khách hàng.
Xuất phát từ thực tế trên, việc thiết kế một chiếc ghế xoay văn phòng phù hợp với nhiều đối tượng, đảm bảo sức khỏe nhân viên công sở và mang lại giá trị thẩm mỹ cho không gian phòng làm việc thì rất cần thiết. Được sự phân công của Khoa Cơ khí Chế tạo máy và sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Hải Hoàn và ThS. Nguyễn Hà, chúng tôi xin thực hiện đề tài tốt nghiệp “Thiết kế và chế tạo ghế xoay cho văn phòng”.2 Mục tiêu nghiên cứu - Thiết kế và chế tạo ghế xoay văn phòng từ gỗ cao su ghép thanh đảm bảo yếu tố về công thái học, kinh tế và tính thẩm mỹ.
- Bản thiết kế chi tiết 2D và 3D - Phân tích nhân trắc học về ghế tựa xoay, Phân tích chọn chất liệu - Giới thiệu các Tiêu chí hoặc Tiêu chuẩn về Ghế tựa xoay - Thiết kế qui trình gia công, tính toán công nghệ - Gia công và Sản xuất Mẫu thực. - Đánh giá về sản phẩm mẫu thực Ghế Xoay sau khi hoàn thành.3 Mục tiêu cụ thể - Xây dựng được phương án thiết kế tối ưu cho sản phẩm ghế xoay văn phòng phù hợp với nguyên liệu được chọn. 1 - Lập được hồ sơ các bản vẽ chi tiết 3D và 2D cho sản phẩm ghế xoay văn phòng cho quá trình sản xuất.4 Nội dung nghiên cứu - Tìm hiểu về nguyên lý, phong cách, kiểu dáng và chất liệu sử dụng cho thiết kế sản phẩm ghế xoay văn phòng. - Tìm hiểu về vật liệu gỗ ghép cao su và hướng sử dụng vật liệu.
- Đề xuất một số phương án thiết kế sản phẩm ghế xoay từ gỗ ghép cao su dựa trên những thông tin đã tìm hiểu ở nội dung trước. - Thiết kế công nghệ, tính toán nguyên vật liệu, và đưa quy trình công nghệ cho quá trình gia công sản phẩm. - Sản xuất sản phẩm mẫu .5 Giới hạn đề tài - Đề tài tập trung vào quá trình thiết kế và gia công cho sản phẩm ghế xoay văn phòng. - Đối tượng sử dụng tập trung vào nhân viên có độ tuổi từ 20 đến 30 tuổi.6 Phương pháp nghiên cứu Phương pháp khảo sát: - Khảo sát các sản phẩm tương tự trên thị trường.
- Khảo sát về nguyên vật liệu chế tạo. Phương pháp kế thừa: - Kế thừa các tài liệu có sẵn về lý thuyết nhân trắc học trong thiết kế sản phẩm nội thất. - Kế thừa các tài liệu về thiết kế nội thất của các nhà thiết kế trong nước và trên thế giới. Phương pháp phân tích, đánh giá: - Dựa trên tài liệu kế thừa, tài liệu điều tra khảo sát tiến hành phân tích tổng hợp so sánh đưa ra phương pháp thiết kế.
- Phân tích lựa chọn phương án thiết kế. Phương pháp đồ họa vi tính: Sử dụng các phần mềm đồ họa AutoCad, SketchUp,.để thể hiện và thiết lập hệ thống bản vẽ.7 Ý nghĩa khoa học - Ý nghĩa khoa học: Thiết kế một sản phẩm phù hợp với nhu cầu sử dụng. Cải tiến quy trình để đưa vào sản xuất đại trà. - Ý nghĩa thực tiễn: Tạo ra sản phẩm mới, bắt kịp xu hướng và mang lại doanh thu cho doanh nghiệp.
Đa dạng hóa mẫu mã cho khách hàng lựa chọn 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan về ngành chế biến lâm sản Việt Nam 2.1 Một vài nét chính Năm 2023 là năm khó khăng của ngành gỗ Việt Nam. Xung đột giữa Nga và Ukraina vẫn tiếp diễn, cùng với xung đột tại Trung Đông tạo ra khủng hoảng về chuỗi cung hàng hóa, đẩy giá nhiên liệu và lạm phát tăng cao. Nhu cầu sử dụng các hàng hóa đặc biệt là hàng hóa không thiết yếu như đồ gỗ giảm mạnh. Một số nhà nhập khẩu đồ gỗ của Việt Nam đã phá sản.
Nhiều doanh nghiệp (DN) của Việt Nam phải thu hẹp quy mô sản xuất, thậm chí phải đóng cửa. Nhu cầu của người tiêu dùng về đồ gỗ giảm kéo theo sự suy giảm về nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu đầu vào. Xuất khẩu giảm kéo theo cầu gỗ nguyên liệu đầu đầu vào giảm, bao gồm cả nguồn gỗ nhập khẩu. Năm 2023, kim ngạch xuất khẩu G&SP của Việt Nam đạt 13,18 tỷ USD giảm 15,9% so với năm 2022.
Đây là lần đầu tiên trong 15 năm ngành gỗ Việt Nam ghi nhận sự sụt giảm trong khâu xuất khẩu của ngành. Kế hoạch năm 2023, xuất khẩu lâm sản đạt 17,5 tỷ USD nhưng đến cuối tháng 12, kim ngạch mới đạt gần 14,5 tỷ USD. Có thể khẳng định rằng 20 năm qua, chỉ tiêu này của ngành lâm nghiệp liên tục lập đỉnh nhưng năm nay lại đi xuống. Đây là tín hiệu cho thấy ngành phải nhanh chóng tái cơ cấu sản phẩm này từ nguyên liệu, sản phẩm, thị trường…”, đây là chia sẻ của Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Quốc Trị tại hội nghị tổng kết ngành lâm nghiệp.
2023 là một năm khó khăn với ngành gỗ khi nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường xuất khẩu chính như Mỹ và EU giảm mạnh dẫn đến các đơn hàng sụt giảm, nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, thậm chí phải đóng cửa. Bước sang năm 2024, ngành lâm nghiệp đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu quay về đỉnh cũ năm 2022, tức 17,5 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2023. Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị cho rằng những chỉ tiêu này khá cao, đặc biệt trong bối cảnh xung đột chính trị đang kéo dài và khó đoán định, cả yếu tố đầu ra và đầu vào của xuất khẩu đều khó khăn. Thứ trưởng cho rằng các đơn vị ngành lâm nghiệp cần ngồi lại và rà soát lại, để những mục tiêu trở thành con số hiện thực vào cuối năm 2024.33 10 ĐVT :Tỷ USD 8.
1: Kim ngạch xuất khẩu G&SPG hàng năm của Việt Nam giai đoạn 2015 - 2023 Nguồn : VIFOREST, FPA Bình Định, HAWA, BIFA và Forest Trends tổng hợp từ nguồn số liệu thống kê xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan Có thể thấy, trong những năm gần đây, ngành gỗ luôn đạt mức tăng trưởng cao trung bình 13%/năm và luôn nằm trong TOP 6 mặt hàng/nhóm mặt hàng có giá trị xuất khẩu trên 10 tỷ USD/năm. Đặc biệt Vào năm 2022 là một năm nhiều thức đối với ngành gỗ Việt Nam. Sau khi các tác động của đại dịch COVID-19 dần lắng xuống, hoạt động chế biến, sản xuất và xuất nhập khẩu của toàn nền kinh tế nói chung và ngành gỗ nói riêng được từng bước hồi phục với kỳ vọng tăng trưởng tốt sau khi các thị trường quan trọng như Mỹ, Nhật, EU, Trung Quốc, v. mở cửa trở lại.
Tuy nhiên, cuộc xung đột vũ trang giữa Nga và Ukraina kéo theo cuộc khủng hoảng giá năng lượng toàn cầu và lạm phát tăng nhanh tại các thị trường nói trên đã làm nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam gặp khó khăn nặng nề trong nửa sau của năm 2022. Ở phía bên kia của thị trường, xuất khẩu dăm gỗ và viên nén lại là hai điểm sáng trong bức tranh ngành gỗ nói chung khi nhu cầu nhập khẩu hai mặt hàng này, đặc biệt là viên nén để thay thế nhiên liệu hóa thạch, đã có sự tăng trưởng đột biến trong năm 2022. Năm 2022 mặc dù bị ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 và cuộc chiến giữa Nga – Ukraine, kim ngạch xuất khẩu G&SPG của Việt Nam vẫn đạt 15,67 tỷ USD, tăng 10,9% so với năm 2021. Trong năm 2023, tác động của sự suy giảm kinh tế tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm của ngành gỗ Việt, cuộc chiến Nga – Ukraine, khủng hoảng năng lượng, đặc biệt tại EU, 5 và một số yếu tố vĩ mô khác khiến cho cầu tiêu dùng đồ gỗ giảm mạnh.
Kết quả là kim ngạch xuất khẩu G&SPG của Việt Nam đã giảm 15,9% so với 2022, chỉ đạt 13,18 tỷ USD. Trong năm 2023, kim ngạch NK G&SPG của Việt Nam đạt gần 2,19 tỷ USD, giảm 28,7% so với năm 2022. Các mặt hàng nhập khẩu có giá trị cao chủ yếu thuộc nhóm gỗ nguyên liệu (HS4403, 4407). Mặc dù vậy, trong những tháng cuối năm 2023, kim ngạch nhập khẩu G&SPG đã có dấu hiệu tăng trở lại, đạt trung bình gần 200 triệu USD/tháng.
Các mặt hàng nhập khẩu chính gồm gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ dán, veneer, ván dăm, ván sợi,… Hình 2.2 mô tả kim ngạch nhập khẩu G&SPG của Việt Nam theo các năm trong giai đoạn từ năm 2015 tới năm 2023. Có thể thấy, nhu cầu nhập khẩu của Việt Nam tăng dần theo thời gian và không hề bị gián đoạn, kể cả trong thời kỳ diễn ra đại dịch COVID-19.832 ĐVT :Tỷ USD 1. 2: Kim ngạch nhập khẩu G&SPG của Việt Nam từ các thị trường chính giai đoạn 2015 - 2023 Nguồn: Phân tích của VIFORES, FPA BD, HAWA và FOREST TRENDS từ số liệu Hải quan Việt Nam 2.2 Thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam đã xuất khẩu G&SPG sang gần 170 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2023, kim ngạch xuất khẩu của ngành từ 5 thị trường chính là Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và EU đạt trên 11,74 tỷ USD, chiếm trên 89,13% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả ngành.
Kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường này giảm từ 12% đến 30% so với năm 2022. 6 Mặc dù kim ngạch XK vào hầu hết các thị trường giảm, kim ngạch từ thị trường Ấn Độ và Indonesia lại tăng mạnh. Năm 2023 kim ngạch xuất khẩu sang Ấn Độ đạt trên 122,02 triệu USD, tăng 292,1% so với 2022, kim ngạch từ Indonesia đạt gần 86,63 triệu USD, tăng 123,3% so với năm trước đó.