CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm về giao nhận 1. Dịch vụ giao nhận Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu, nhưng phổ biến nhất là định nghĩa của Liên đoàn Quốc tế của các Hiệp hội các nhà giao nhận vận tải (FIATA). Ngày 29/10/2004, FIATA đã phối hợp với Hiệp hội châu Âu về các dịch vụ giao nhận, vận tải, logistics và hải quan (CLECAT) đã đi đến thống nhất về dịch vụ giao nhận vận tải, đó là: “Giao nhận vận tải là bất kì dịch vụ nào liên quan đến chuyên chở (được thực hiện bởi một hoặc nhiều dạng phương tiện vận tải), gom hàng, lưu kho, xếp dỡ, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ phụ trợ và tư vấn có liên quan đến các dịch vụ kể trên, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn ở những vấn đề hải quan hay tài chính, khai báo hàng hóa cho những mục đích chính thức, mua bảo hiểm cho hàng hóa và thu tiền hay lập các chứng từ liên quan đến hàng hóa.” Tại Việt Nam, lần đầu tiên dịch vụ giao nhận được nhắc tới là tại luật Thương mại năm 1997, dịch vụ giao nhận đề cập một cách rõ ràng và cụ thể theo điều 163 với nội dung tương tự như khái niệm của FIATA.
Tuy nhiên, bởi sự phát triển không ngừng của toàn cầu hóa cũng như thương mại quốc tế, thuật ngữ “dịch vụ giao nhận” đã không còn được sử dụng thường xuyên trong các văn bản quy phạm pháp luật bởi vì không thể hiện được các quy trình cần có để thực hiện xuất nhập khẩu. Thay vào đó, “dịch vụ giao nhận” được thay thế bằng “dịch vụ logistics”. Pháp luật Việt Nam cũng đã có các sửa đổi để phù hợp với thực tế, điều 233 luật Thương mại 2005 quy định: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc.” 3 Theo đó, quy trình giao nhận hiện tại không còn là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện quá trình di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng).
Giao nhận chỉ còn là một dịch vụ trong quá trình thực hiện dịch vụ Logistics. Tuy vậy đây vẫn là một dịch vụ lớn, bao gồm nhiều nghiệp vụ khác như tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ thông quan hải quan và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng. Khái niệm về người giao nhận Hiện tại chưa có một khái niệm thống nhất nào về người giao nhận được quốc tế công nhận, mọi người thường hiểu người kinh doanh dịch vụ giao nhận hay các doanh nghiệp giao nhận là người giao nhận (Forwarder, Freight Forwarder, Forwarder Agent). Theo FIATA: “Người giao nhận là người lo toan để hàng hóa được chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hoạt động vì lợi ích của người ủy thác mà bản thân anh ta không phải là người vận tải.
Người giao nhận cũng đảm bảo thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm hóa”. Người giao nhận có thể là chủ hàng (khi chủ hàng tự đứng ra đảm nhận công việc giao nhận hàng hóa của mình), chủ tàu (khi chủ tàu thay mặt chủ hàng thực hiện dịch vụ giao nhận), công ty xếp dỡ hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kì người nào khác có đăng kí kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa. Từ định nghĩa trên ta có thể rút ra nhận xét: Người giao nhận hoạt động theo hợp đồng ủy thác ký với chủ hàng, bảo vệ lợi ích của chủ hàng. Người giao nhận lo liệu mọi việc vận tải nhưng chưa chắc đã là người vận tải.
Anh ta có thể thuê bên thứ ba thực hiện việc vận tải hộ mình. Cùng với việc tổ chức vận tải, người giao nhận còn làm nhiều việc khác trong phạm vi ủy thác của chủ hàng để đưa hàng từ nơi nhận đến nơi trả hàng theo những điều khoản đã cam kết. Vai trò, nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền hạn của người giao nhận 1. Vai trò của người giao nhận Trong xu hướng sản xuất hiện đại, khi mà mức độ ảnh hưởng cũng như việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm trên thị trường ngày càng lớn, thì vai trò của người giao nhận ngày càng được khẳng định.
Người giao nhận tham gia sâu vào quá trình dịch chuyển của dòng hàng hóa trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trở thành cầu nối liên kết tất cả các khâu từ cung ứng nguyên, vật liệu đến khi hàng hóa được phân phối đến tận tay người tiêu dùng. Người giao nhận có thể thay mặt người gửi hàng vận chuyển hàng hóa qua các công đoạn cho đến tay người nhận hàng cuối cùng hoặc thay mặt người nhận hàng làm các thủ tục đề nhận hàng. Để thực hiện tốt vai trò của mình, người giao nhận có thể thực hiện trực tiếp các công việc hoặc thông qua đại lý cũng như thuê dịch vụ của bên thứ ba khác để thực hiện. Các vai trò của người giao nhận bao gồm: Nghiên cứu để lập kế hoạch, lựa chọn tuyến vận chuyển, người chuyên chở, công ty xếp dỡ phù hợp với chi phí hợp lý nhất để vận chuyển hàng hóa đến tay người nhận hàng một cách an toàn trong thời gian ngắn nhất.
Gửi thông tin và hướng dẫn cho các bên liên quan trong quá trình vận chuyển về cách xếp dỡ hàng hóa, cách bảo quản hàng hóa,. Người giao nhận tự cung cấp hoặc sử dụng dịch vụ của bên thứ ba để tổ chức việc lưu kho, phân loại đóng gói, đánh dấu ký mã hiệu cho hàng hóa phù hợp với quy định tại quốc gia nhập khẩu cũng như là phù hợp với điều kiện và phương tiện vận chuyển. Tổ chức, sắp xếp vận chuyển hàng hóa trong nội địa nước xuất, nhập khẩu và các dịch vụ liên quan như giám định, mua bảo hiểm, thông quan hàng hóa và các thủ tục khác. Lập bộ chứng từ hoặc tư vấn cho khách hàng lập các chứng từ phù hợp với nhắm mục đích thanh toán.
Theo dõi quá trình vận chuyển của hàng hóa, thông báo các thông tin liên quan đến cho khách hàng, tư vấn kịp thời cho khách hàng đảm bảo cho quá trình vận chuyển diễn ra một cách thông suốt và thuận lợi. Nghĩa vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người giao nhận a) Nghĩa vụ, quyền hạn của người giao nhận 5 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có các quyền và nghĩa vụ sau đây: Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng. Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn; Trường hợp không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý.
Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải. (Nguồn: Chương 4, mục 3, điều 235, Luật Thương mại Việt Nam) b) Trách nhiệm của người giao nhận Trách nhiệm của nhà giao nhận vận tải (không phải là đại lý) Nhà giao nhận vận tải phải chịu trách nhiệm nếu họ không đạt thẩm định về dịch vụ giao nhận hàng hoá, bao gồm cả các việc thuộc điều 8, phải bồi thường cho khách hàng về phần hàng hoá bị thất lạc hay hư hỏng cũng như thất thoát về tài chính mà lỗi thuộc về nhà giao nhận vận tải. Nhà giao nhận vận tải sẽ không chịu trách nhiệm về các hành động và thiếu sót của bên thứ ba, ví dụ như không giới hạn hãng vận chuyển, nhân viên kho, công nhân bốc vác, chính quyền cảng hoặc các nhà giao nhận vận tải khác. Tuy nhiên, họ vẫn phải chịu trách nhiệm nếu không thẩm định tốt quá trình lựa chọn, hướng dẫn và giám sát các bên thứ ba.
Trách nhiệm của nhà giao nhận vận tải (là đại lý) Trách nhiệm của nhà giao nhận vận tải đóng vai trò là hãng vận chuyển: Nhà giao nhận vận tải sẽ chịu trách nhiệm không chỉ khi tự vận tải hàng hoá bằng phương tiện của họ, mà cả khi phát hành chứng từ hoặc khi họ là người thầu vận chuyển (contracting carrier). 6 Tuy nhiên, nhà giao nhận vận tải sẽ không chịu trách nhiệm giống như hãng vận chuyển nếu như khách hàng nhận chứng từ vận tải được phát hành bởi chủ thể khác mà không phải là nhà giao nhận vận tải và sẽ duy trì như vậy trong khoảng thời gian hợp lý. Trách nhiệm của nhà giao nhận vận tải khi cung cấp các dịch vụ khác: Với các dịch vụ khác ngoài vận chuyển hàng hoá nhưng không giới hạn, lưu trữ, xử lý, đóng gói hoặc phân phối hàng hoá cũng như các dịch vụ phụ trợ khác có liên quan, nhà giao nhận vận tải phải chịu trách nhiệm khi: + Những dịch vụ trên được thực hiện bởi nhà giao nhận vận tải tại cơ sở của họ, nhân viên của họ hoặc + Khi nhà giao nhận vận tải tự công nhận rằng họ sẽ chịu trách nhiệm cho các việc làm trên. Trách nhiệm cơ bản: Nhà giao nhận vận tải phải chịu trách nhiệm, bao gồm cả các việc thuộc điều 8, cho hành động và thiếu sót của bên thứ ba khi nhà giao nhận vận tải thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá hoặc các dịch vụ khác.
Lúc này, quyền và nghĩa vụ của nhà giao nhận được áp dụng theo luật của phương thức vận chuyển đó và dịch vụ đã cung cấp, cũng như các điều khoản đã được thoả thuận từ trước.