Chương 1 MỘT SÓ VÁN ĐÈ CHUNG VÈ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI CUỚP TÀI SẢN VÀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM 1. Khái niệm, ý nghĩa, căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc định tội danh /. Khái niệm, ỷ nghĩa của việc định tội danh Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay, cùng với việc nghiên cứu các quy định mới của BLHS năm 2015 thì việc nghiên cứu chuyên sâu những vấn đề lý luận cơ bản về định tội danh vẫn luôn được các nhà khoa học, các luật gia quan tâm, nghiên cứu bởi đây là vấn đề không những có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học mà còn về mặt thực tiễn. Do đó, trước khi đi vào phân tích khái niệm và các đặc điểm của việc định tội danh đối với các tội phạm cụ thế là tội cướp tài sản và tội cưởng đoạt tài sản thì cần làm rõ khái niệm định tội danh theo nghĩa chung nhất.
Đối với khái niệm định tội danh, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu được đưa ra, các quan điểm này cơ bản đều đưa ra nội hàm cơ bản và thống nhất về khái niệm này.TSKH Lê Văn Cảm, định nghĩa khoa học của khái niệm định tội danh như sau: Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự được các chủ thể có thẩm quyền theo quy định pháp luật tiến hành bằng cách - trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết khách quan của vụ án hình sự đế đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thế tương ứng được luật hình sự quy định [10, tr 21]. 7 Theo quan điêm của PGS.TS Trịnh Quôc Toản: Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp (đồng nhất) giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự. Nói cách khác định tội là việc xác định hành vi cụ thể đà thực hiện thoa mãn đầy đủ các dấu hiệu cùa tội • • • • J • • nào trong các trong số các tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, đồng thời Kết luận, định tội danh là một quá trình logic nhất định, là hoạt động tư duy do người tiến hành tố tụng thực hiện. Nó đồng thời cũng là một trong những hình thức hoạt động về mặt pháp lý, thể hiện sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội đang được kiếm tra, xác định trong mối tương quan với các quy phạm pháp luật hình sự [40, tr.
Theo quan điểm của PGS.TS Dương Tuyết Miên: Định tội danh được hiểu là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện Kiềm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của Bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện [21, tr.TS Lê Văn Đệ, định tội danh được hiểu dưới hai nghĩa: Với ý nghĩa thứ nhất: Định tội danh là một quá trình logic nhất định, là hoạt động của cán bộ có thẩm quyền trong việc xác nhận sự phù hợp giừa trường hợp phạm tội cụ thể đang xem xét với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong một quy phạm pháp luật thuộc phần các tội phạm Bộ luật hình sự. • 1 • • • • Với ỷ nghĩa thứ hai, định tội danh là sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra trong thực tế mà cán bộ có thấm quyền đang xem xét nhằm xác định hành vi đó thỏa mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định tại điều khoản nào cùa Bộ luật • JL • • JL • •• hình sự [14, tr. 8 Trên cơ sở tham khảo quan điêm đúng đăn, khoa học cùa GS.TSKH Lê Văn Cảm, tác giả kế thừa các khái niệm và xin nêu lại như sau: Định tội danh là một quá trình nhận thức lỵ luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng phcip luật hĩnh sự, cũng như pháp luật tố tụng hình sự được các chủ thể có thâm quyền theo quy định pháp luật tiến hành bằng cách - trên cơ sỏ' các chúng cứ, các tài liệu thu thập được và các tĩnh tiết khách quan của vụ án hình sự để đổi chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vỉ nguy hiếm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thê tương ứng được luật hình sự quy định. 21] Như vậy, từ khái niệm này có thể khẳng định một cách xác đáng và có căn cứ rằng: mục đích định tội danh là nhằm đạt được sự thật khách quan - đưa ra sự • • • • • < 4 X • đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thế hóa và phân hóa TNHS một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.
Đồng thời, cũng trên cơ sở tham khào quan điểm nghiên cứu khách quan và toàn diện của GS. Lê Văn Cảm, tác giả xin kế thừa và tổng hợp những đặc điếm cơ bản của việc định tội danh như sau: Thứ nhất, định tội danh là một quấ trình nhận thức lý luận có tính logic được thể hiện dưới hai khía cạnh: Xác định xem các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có phù hợp (tương đồng) với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể do điều tương ứng trong Phần các tội phạm BLHS quy định hay không. Trên cơ sở đó, đưa ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã xảy ra trong thực tế khách quan [11, tr. Thứ hai, định tội danh còn có thế được hiếu là một hình thức hoạt động thực 7 • • • 4 • • ^2 • tiễn pháp lý của các cơ quan tư pháp hình sự - các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử để cụ thể hoá các quy phạm pháp luật hình sự trừu tượng vào đời sống thực tế, tức là lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự để áp dụng đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thế nào đó được thực hiện trong thực tế khách quan và từ đó, đưa ra kết luận là: hành vi được xem xét ấy có đày đủ các dấu hiệu của tội phạm tương ứng đ- ược qui định trong pháp luật hình sự thực định hay không (?).22] 9 Thứ ba, việc thiêt lập các dâu hiệu đặc trưng cơ bản và điên hình đê xác định bản chất pháp lý của hành vi nguy hiềm cho xã hội được thực hiện trong thực tế khách quan là một vấn đề rất quan trọng của quá trình định tội danh, mà toàn bộ quá trình này phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy phạm của luật nội dung (vật chất) - được quy định trong BLHS, cũng như của luật hình thức - được quy định trong BLTTHS.21] Thứ tư, định tội danh với tính chất là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự được tiến hành về cơ bản theo bốn bước cụ thề là: (l)Xem xét và thiết lập đúng các tình tiết thực tế của vụ án trong sự phù họp với hiện thực khách quan; (2) Nhận thức một cách thống nhất và chính xác nội dung các qui phạm pháp luật hình sự đang có hiệu lực thi hành; (3) Lựa chọn đúng Điều (các điều) tương ứng trong Phần các tội phạm BLHS quy định TNHS đối với tội phạm cụ thể để so sánh, đối chiếu và kiếm tra các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đó với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiềm cho xã hội đà được thực hiện và, cuối cùng; (4) Sau khi đà so sánh, đối chiếu và kiểm tra đầy đủ và chính xác xong, thì ra một văn bản áp dụng pháp luật mà trong đó đưa ra kết luận có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục về sự phù hợp (tương đồng) của hành vi thực tế đã được thực hiện với cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được qui định trong luật hình sự.
22-23] Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính lôgic diễn ra theo ba giai đoạn mà nội dung cùa chúng dược thế hiện dưới đây: * Giai đoạn thứ nhất - xác định quan hệ pháp luật. Giai đoạn này thể hiện bằng việc phân tích các dấu hiệu cơ bản nhất của hành vi nguy hiềm cho xã hội được thực hiện để xác định xem hành vi đó có các dấu hiệu của tội phạm hay không (?) - có phải là hành vi bị luật hình sự cấm không (hay chỉ là hành vi vi phạm pháp luật khác). Tức là phải dựa vào Điều 143 BLTTHS năm 2015 quy định về các căn cứ khởi tố vụ hình sự (như: tố giác của công dân, tin báo của cơ quan nhà nước hoặc tố chức xã hội, v.) đế “xác định dấu hiệu của tội phạm”. Trong giai đoạn thông thường sẽ có ba khả năng như sau xảy ra: 1) Không được khởi tố vụ án hình sự khi có 1 trong 8 căn cứ được quy định tại Điều 157 BLTTHS năm 2015; 10 2) Nêu hành vi được thực hiện là vi phạm pháp luật khác, thì tùy theo giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng mà cơ quan chức năng gửi tin báo hoặc đơn báo hoặc đơn tố giác cho cơ quan nhà nước (tồ chức xã hội) hữu quan để giải quyết theo thẩm quyền; 3) Hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chủ thể thực hiện có các dấu hiệu của tội phạm, thi có nghĩa là phát sinh quan hệ pháp luật hình sự và như vậy chuyển sang giai đoạn thứ hai.
24] * Giai đoạn thứ hai - tìm nhóm quy phạm pháp luật hình sự.