CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRONG TRƯỜNG HỢP HẬU QUẢ CHƯA XẢY RA 1. Lý luận và cơ sở pháp lý hình sự của định tội danh Tội cướp giật tài sản trong trường hợp hậu quả chưa xảy ra Khái niệm và đặc điểm của định tội danh Tội cướp giật tài sản Định tội danh là một hoạt động rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là tiền đề cho việc quyết định hình phạt một cách công minh, chính xác. Định tội danh được các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố đến giai đoạn xét xử vụ án hình sự. Khái niệm định tội danh và các vấn đề lý luận của nó được một số nhà khoa học luật nghiên cứu và các quan điểm đều có sự thống nhất về nội hàm của khái niệm này: Trước hết theo quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh: “Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định CTTP tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của CTTP với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và 1 thông qua các giai đoạn nhất định”.
Theo quan điểm của GS.TS Lê Cảm: “Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính chất logic, là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành bằng cách trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật hình sự quy định, nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình 2 sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật”. 1 Võ Khánh Vinh (2013), Giáo trình lý luận chung về định tội danh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 2 Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr. 7 Còn theo quan điểm của PGS.TS Dương Tuyết Miên cho rằng: “Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều nào của Bộ luật Hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định 3 tên gọi cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện”.
Kết hợp các khái niệm định tội danh và quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) về Tội cướp giật tài sản, theo chúng tôi khái niệm về định tội danh Tội cướp giật tài sản được định nghĩa như sau: Định tội danh Tội cướp giật tài sản là một trong những dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự để xác định và ghi nhận về mặt pháp lý hình sự phù hợp chính xác giữa các tình tiết của hành vi cướp giật tài sản đã xảy ra trên thực tế với các dấu hiệu của CTTP Tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015. Các đặc điểm của định tội danh Tội cướp giật tài sản Từ khái niệm nêu trên, định tội danh Tội cướp giật tài sản ngoài những đặc điểm chung của định tội danh, còn phản ánh những đặc điểm cơ bản riêng như sau: Thứ nhất, định tội danh Tội cướp giật tài sản là hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, mà cụ thể là áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành bao gồm cả phần chung và phần các tội phạm vào định tội các vụ án cụ thể có hành vi cướp giật tài sản. Thứ hai, trong thực tiễn áp dụng pháp luật hoạt động định tội danh Tội cướp giật tài sản do các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền theo quy định và trình tự của pháp luật để xác định một người có phạm Tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015 hay không. Thứ ba, định tội danh Tội cướp giật tài sản được tiến hành bằng cách trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết khách quan của vụ 3 Dương Tuyết Miên (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt, Nxb Công an nhân dân, tr.
8 án xảy ra để đối chiếu, so sánh và kiểm tra xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu đặc trưng của CTTP cướp giật tài sản được quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015. Thứ tư, kết quả của quá trình định tội danh chính thức đối với Tội cướp giật tài sản thể hiện thông qua một văn bản áp dụng pháp luật và bởi cơ quan, chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Cơ sở pháp lý hình sự của định tội danh Tội cướp giật tài sản trong trường hợp hậu quả chưa xảy ra Bộ luật Hình sự quy định tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, điều này thể hiện trực tiếp nhất tại Điều 2 BLHS năm 2015 khi quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Do đó, trong quá trình định tội danh thì quy định của Bộ luật Hình sự có ý nghĩa quyết định và quan trọng nhất, nó đóng vai trò là cơ sở pháp lý hình sự duy nhất của việc định tội danh.
Chỉ có BLHS mới quy định tội phạm và hình phạt, điều này có nghĩa là một người chỉ bị coi là phạm tội và bị xử lý khi hành vi mà họ thực hiện được quy định trong BLHS, không một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào có quyền được xác định hành vi do một người thực hiện có phải là tội phạm hay không và mức xử phạt như thế nào. Bộ luật Hình sự bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật được sắp xếp làm hai phần: Phần chung và phần các tội phạm. Trong đó, phần chung của BLHS ghi nhận nhiệm vụ, nguyên tắc xử lý, các chế định cơ bản và quan trọng nhất của luật hình sự là tội phạm và hình phạt, cũng như các vấn đề khác như hình phạt, hệ thống hình phạt, các biện pháp tư pháp, quyết định hình phạt, xoá án tích…. Phần các tội phạm quy định tên gọi các tội phạm cụ thể, các dấu hiệu pháp lý hình sự cơ bản, loại và mức hình phạt cụ thể đối với từng hành vi phạm tội tương ứng.
Việc áp dụng các quy định của phần này phải dựa trên các quy phạm của phần chung của BLHS. Ngược lại các quy định của Phần chung là cơ sở, nền tảng của phần các tội phạm. Như vậy, khi tiến hành định tội danh cần phải căn cứ vào cả quy phạm phần chung và quy phạm phần các tội phạm của BLHS năm 2015. Có như vậy, việc định tội danh mới đảm bảo đủ cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi đó.
9 Tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 171, Chương XVI - Các tội phạm xâm phạm sở hữu của BLHS năm 2015: quy định những dấu hiệu đặc trưng, điển hình, bắt buộc không thể thiếu trong CTTP. Những dấu hiệu đó là khuôn mẫu pháp lý làm cơ sở cho người tiến hành tố tụng so sánh, đối chiếu với hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra trên thực tế, từ đó xác định người thực hiện hành vi nguy hiểm đó có đủ yếu tố cấu thành Tội cướp giật tài sản hay không, được quy định tại Khoản nào của Điều 171 BLHS. Cấu thành tội phạm của Tội cướp giật tài sản Cấu thành tội phạm bao gồm tổng hợp các yếu tố khách quan và chủ quan 4 đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong pháp luật hình sự. Điều 171 BLHS năm 2015 quy định: “Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.
Như vậy, điều luật không mô tả cụ thể những dấu hiệu hay hành vi khách quan của Tội cướp giật tài sản mà chỉ nêu tội danh. Do vậy, dẫn đến có rất nhiều cách hiểu khác nhau, có quan điểm cho rằng: Tội cướp giật giật tài sản là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài 5 sản một cách công khai , hoặc cướp giật tài sản là nhanh chóng giật lấy tài sản 6 của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát , hoặc Tội cướp giật 7 tài sản là hành vi nhanh chóng, công khai chiếm đoạt tài sản. Tội cướp giật tài sản là tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản của chủ thể khác với lỗi cố ý. Người phạm tội cướp giật tài sản phải có mục đích chiếm đoạt từ trước và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng cách công khai, nhanh chóng giật lấy tài sản đang được người khác quản lý, sử dụng rồi tẩu thoát nhưng không dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc một thủ đoạn nguy hiểm nào nhằm uy hiếp tinh thần của người đang quản lý tài sản.
Để định tội danh Tội cướp giật tài sản nói chung và trong trường hợp hậu quả chưa xảy ra nói riêng phải dựa vào các yếu tố CTTP của tội này: Khách thể của Tội cướp giật tài sản 4 Nguyễn Ngọc Hoà (2004), Cấu thành tội phạm: Lý Luận và thực tiễn , Nxb tư pháp, Hà Nội, tr.8 5 Trường Đại học luật Hà Nội (2000), Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 6 Đinh Văn Quế (2003), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự- Phần các tội xâm phạm sở hữu, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 7 Võ Khánh Vinh (2014), tlđd (1), tr. 10 8 Tội cướp giật tài sản xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác .