phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo,phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương: Chƣơng I: Những vấn đề lí luận chung về văn hoá văn nghệ và thưởng thức thẩm mỹ Chƣơng II: Nội dung thông tin và định hướng thẩm mỹ cho giới trẻ của chuyên trang văn hoá văn nghệ trên ba tờ báo: Tiền phong, Thanh niên, Tuổi trẻ Chƣơng III: Khảo sát hiệu quả thông tin thẩm mỹ của chuyên trang văn hoá văn nghệ trên ba tờ báo: Tiền phong, Thanh niên, Tuổi trẻ đối với giới trẻ 5 z Chƣơng I NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HOÁ VĂN NGHỆ VÀ THƢỞNG THỨC THẨM MỸ 1.Văn hoá và văn hoá thẩm mỹ Có thể nói trong lịch sử phát triển của nhân loại, chưa bao giờ vấn đề văn hoá được đặt ra cấp bách và toàn diện như hiện nay. Tiếp cận xã hội ở bất kỳ một lĩnh vực nào, từ bất cứ góc độ nào đều ít nhiều động chạm đến văn hoá. Điều đó chứng tỏ văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn bao trùm đồng thời nó còn lan toả, thâm nhập, đan xen vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính vì vậy, văn hoá là một khái niệm rộng đa nghĩa và gây nhiều tranh luận.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá. Theo thống kê, có hơn 400 định nghĩa khác nhau. Bởi mỗi học giả đều xuất phát từ những góc độ riêng, những mục đích và tính chất riêng…phù hợp với đề tài nghiên cứu của mình. Nhưng tựu chung lại định nghĩa của UNESCO đã đề cập được một cách bao trùm nhất như sau: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách xã hội hay một nhóm người trong xã hội.
Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục tín ngưỡng: Văn hoá đem lại cho con người ta khả năng suy xét bản thân. Chính văn hoá làm cho con người ta trở thành một sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét thành tựu của bản thân, tìm tòi không mệt 6 z mỏi những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội bản thân” (Theo tuyên bố về những chính sách văn hoá do UNESCO chủ trì) [55 tr.17] Định nghĩa mà UNESCO nêu đã khẳng định văn hoá là những gì tinh tuý nhất, đặc biệt nhất mà con người phát minh ra. Văn hoá làm cho con người sống có lý tính, biết kiềm chế bản thân, biết suy xét, biết cách ứng xử với thiên nhiên, với đồng loại, biết hướng mình đến những triết lý tốt đẹp.
Nó còn giúp cho con người biết khám phá, biết xây dựng những công trình vĩ đại để làm giàu cho những giá trị cuộc sống. Có thể nói văn hoá quyết định đến tính cách của một con người hay cả một cộng đồng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất đề cao văn hoá trong đời sống xã hội. Người cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra chữ viết, đạo đức và pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, mỹ thuật, những sinh hoạt hàng ngày và các phương thức sử dụng” [ 34 tr.8] Đồng chí Phạm Văn Đồng, một nhà văn hoá lớn của dân tộc thì quan niệm: “Nói tới văn hoá là nói tới một lĩnh vực vô cùng rộng lớn và phong phú, bao gồm tất cả những gì không phải thiên nhiên, có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử…Cốt lõi sức sống dân tộc là văn hoá với ý nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó bao gồm hệ thống những giá trị: tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phẩm chất, trí tuệ, tài năng, sự nhạy cảm và tiếp thu cái mới, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để mình lớn mạnh không ngừng” [ 53 tr.Viện sĩ Trần Ngọc Thêm nêu ra một định nghĩa văn hoá như sau: "Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con 7 z người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
Hoàng Trinh - một nhà nghiên cứu cũng đưa ra một số nhận thức về văn hoá như sau: “Văn hóa là toàn bộ hoạt động sáng tạo, bảo vệ và phát huy những giá trị của một dân tộc. Về mặt sản xuất và sản xuất tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước trên cơ sở một phương thức sản xuất nhất định. Văn hoá thể hiện trong lí tưởng sống, trong quan niệm về thế giới và nhân sinh, tín ngưỡng, trong lao động và đấu tranh, tổ chức xã hội, sức sống, lí tưởng thẩm mỹ…” [ 48 tr. Như vậy mọi hoạt động sản xuất, kết quả của những hoạt động ấy do con người có ý thức tác động vào tự nhiên và xã hội mà có, đều có thể thuộc về văn hoá.
Cũng có thể nói: “Nhân hóa tự nhiên” tức là văn hoá. Tự nhiên ở đây không phải là khách thể trong quá trình sáng tạo và phát triển văn hoá do con người với tư cách là chủ thể tiến hành, có nghĩa là tự nhiên không chỉ là giới tự nhiên tồn tại bên ngoài con người. Tự nhiên được nói ở đây bao gồm cả phần “bản năng tự nhiên" trong "bản thân con người”. Điểm xuất phát của văn hoá là con người hoạt động trong thực tiễn trước hết là cải biến hoàn cảnh tự nhiên rồi tiến đến cải tạo hoàn cảnh xã hội, con người sáng tạo ra văn hoá và cũng như vậy văn hoá cũng tái tạo bản thân con người.
Sức mạnh của văn hoá là sáng tạo, là khai phóng. Nòng cốt của những hoạt động khai phóng, sáng tạo này là tư tưởng nhân văn xét từ bản chất các hoạt động văn hoá là sự thống nhất hữu cơ giữa các hoạt động khoa học (xã hội, tự nhiên) và tư tưởng nhân văn. Với những quan niệm như trên, văn hoá được hiểu là hệ thống những giá trị phong phú trong hiện thực, được tạo nên bởi hoạt động sáng tạo của nhiều 8 z thế hệ người trong lịch sử. Các giá trị này biểu hiện trình độ phát triển trong những đặc tính riêng của mỗi dân tộc.
Văn hóa thẩm mỹ Văn hoá thẩm mỹ (theo các nhà nghiên cứu văn hoá) là một bộ phận cấu thành của văn hoá nhân loại. Theo các tác giả Liên Xô (Trong sách “Cơ sở lý luận văn hó Mác – Lênin”) , chủ biên GS.Ac-nôn-đốp cho rằng “Văn hoá thẩm mỹ là một thành tố nằm trong hệ thống văn hoá tinh thần. Chức năng đặc thù của văn hoá thẩm mỹ là đem lại cho chủ thể con người một biểu tượng trực quan về một hiện thực như lý tưởng mong muốn” [6 tr. Như vậy với tư cách là một bộ phận hữu cơ của văn hoá, văn hoá thẩm mỹ là bao hàm bên trong nó những năng lực tinh thần - thực tiễn đặc biệt giúp cho con người có khả năng hoạt động theo các quy luật của cái đẹp nhằm cảm thụ, nhận thức, đánh giá và sáng tạo trên các giá trị thẩm mỹ.
Con người luôn khát khao cảm thụ cái đẹp và đưa cái đẹp vào tất cả các lĩnh vực của mình bởi con người có một năng lực đặc biệt - năng lực thẩm mỹ, biểu hiện cao nhất là năng lực sáng tạo nghệ thuật. Nếu lấy hoạt động “theo quy luật của cái đẹp” làm tiêu chí thì văn hoá thẩm mỹ bao hàm cả văn hoá văn nghệ, văn hoá văn nghệ là hạt nhân của văn hoá thẩm mỹ. Nghệ thuật là biểu hiện cao nhất của quan hệ thẩm mỹ giữa con người với thế giới hiện thực, văn hoá nghệ thuật là sự phát triển cao của văn hoá thẩm mỹ. Nếu lấy giá trị văn hoá làm tiêu chí thì nghệ thuật có lĩnh vực tồn tại riêng, đó là các giá trị nghệ thuật thuộc mọi loại hình hết sức phong phú trong đời sống văn hoá của mỗi dân tộc.
Giá trị thẩm mỹ lại có mặt ở tất cả các lĩnh vực đời sống, nó được xem như yếu tố thẩm mỹ của sản phẩm, của ngôn ngữ giao tiếp, của hành vi ứng xử trong các quan hệ giữa người và người trong gia đình và toàn 9 z xã hội…Do đó, văn hoá nghệ thuật là thành tố quan trọng, là hạt nhân của văn hoá thẩm mỹ. Khi nói đến văn hoá thẩm mỹ không thể không nhắc tới nghệ thuật, nghệ thuật không chỉ là nội dung cơ bản của văn hoá thẩm mỹ mà còn là phương tiện hữu hiệu nhất của giáo dục thẩm mỹ. Nghệ thuật Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa nghệ thuật như sau: “Là hình thái đặc thù của ý thức xã hội và của các hoạt động của ý thức con người, một phương thức quan trọng để con người chiếm lĩnh các giá trị tinh thần của hiện thực, nhằm mục đích tạo thành và phát triển các năng lực chiếm lĩnh và cải tạo bản thân và thế giới xung quanh theo quy luật của cái đẹp”[ 3 tr. Khác với các hình thái ý thức và hoạt động xã hội khác (như khoa học, chính trị, đạo đức…) nghệ thuật thoả mãn nhu cầu có tính vạn năng của con người là cảm thụ thế giới xung quanh dưới các hình thái đã phát triển của năng lực của cảm nhận mang tính con người.
Đó là năng lực cảm nhận thẩm mỹ đặc trưng, chỉ có ở con người đối với các hiện tượng, sự thật, biến cố của thế giới khách quan với tư cách là chủ thể cụ thể sống động. Nghệ thuật phát sinh và hình thành trên cơ sở lao động, nhưng một khi ra đời, nghệ thuật hình thành và hoàn thiện ở con người một năng lực cảm nhận, có thể vận dụng vào mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, khoa học, chính trị, sinh hoạt… Vì vậy tác phẩm nghệ thuật có thể hình thành một công chúng hiểu biết nghệ thuật và có năng lực hưởng thụ cái đẹp. Nghệ thuật thống nhất trong bản thân nó tất cả mọi hình thức hoạt động và nhận thức của cá nhân đối với thế giới và đối với bản thân mình trong sự hài hoà của thế giới và cảm nhận được ý nghĩa của thế giới trong sự phát triển nhân cách toàn vẹn của mình.