phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu về định hƣớng giá trị gia đình của thanh niên Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về định hƣớng giá trị gia đình của thanh niên Chƣơng 3: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về định hƣớng giá trị gia đình của thanh niên 12 Chƣơng 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỊNH HƢỚNG GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH CỦA THANH NIÊN Từ những năm 50, 60 của thế kỷ trƣớc, khi nền công nghiệp phát triển mạnh mẽ ở các nƣớc phƣơng Tây, khái niệm giá trị gia đình bắt đầu đƣợc các nhà khoa học ở các lĩnh vực quan tâm. Tuy nhiên, phải đến những năm 90 của thế kỷ XX trở đi, các vấn đề về gia đình và sự biến đổi của nó mới đƣợc kiểm chứng dựa trên các nghiên cứu thực chứng. Các nghiên cứu về chủ đề này thƣờng tập trung vào các khía cạnh của đời sống gia đình và cấu trúc gia đình nhƣ: quan hệ hôn nhân, quan hệ trong gia đình, các kiểu loại gia đình, vấn đề sinh con, vấn đề ly hôn.
Chƣơng này sẽ hệ thống hóa và điểm luận các nghiên cứu về giá trị gia đình và định hƣớng giá trị gia đình cũng nhƣ sự biến đổi giá trị gia đình, qua đó bàn luận về những khoảng trống và những gợi ý cho nghiên cứu. Một số nghiên cứu về giá trị gia đình Các nghiên cứu về giá trị gia đình của các tác giả trên thế giới và Việt Nam hiện nay có thể đƣợc nhóm thành các hƣớng nghiên cứu nhƣ sau: - Hướng nghiên cứu giá trị gia đình là một thành tố của hệ giá trị con người Rokeach (1973) nêu bật sự khác biệt giữa các giá trị và các khái niệm khác nhƣ nhu cầu, đặc điểm tính cách, sở thích, chuẩn mực xã hội và thái độ. Ông đã phát triển mô hình Khảo sát giá trị Rokeach (Rokeach Value Survey - RVS) để đánh giá hệ thống giá trị cá nhân. Ông cho rằng, con ngƣời có hai hệ thống giá trị là giá trị đích và giá trị công cụ (đầu tiên là 12 giá trị đích, 12 giá trị công cụ; sau khi chuẩn hóa và chỉnh sửa là 18 giá trị đích và 18 giá trị công cụ).
Những giá trị này tƣơng đối phổ quát và có trong tất cả các nền văn hóa. Tuy nhiên, mỗi cá nhân và mỗi nền văn hóa có sự lựa chọn những giá trị ƣu tiên theo những thứ bậc khác nhau). Lý thuyết của Rokeach đã mở đƣờng cho hoạt động nghiên cứu đo lƣờng những biến đổi giá trị trong xã hội thông qua việc tìm hiểu quan điểm và ý kiến đánh giá của ngƣời dân ở các nền văn hóa khác nhau. Trong đó, Rokeach đã xây dựng đƣợc các giá trị liên quan đến quan điểm về vị trí của nam giới, nữ giới hay cuộc sống gia đình hạnh phúc cũng đƣợc xem xét một thành tố trong hệ thống giá trị cá nhân.
Inglehart và cộng sự là những ngƣời đã nỗ lực nghiên cứu những giá trị văn hóa ở nhiều xã hội khác nhau. Từ cuối thập niên 1980 đến nay, họ đã tiến hành năm cuộc Điều tra giá trị thế giới. Dự án này bao phủ gần 100 quốc gia trên 6 châu lục, 13 nhắm đến phần đông dân số thế giới. Trong Khảo sát giá trị thế giới, các giá trị gia đình đƣợc xem nhƣ một thành tố của hệ giá trị con ngƣời nhƣ: tình dục, tình trạng hôn nhân, số con cái của mỗi cặp vợ - chồng, thành phần gia đình, trình độ học vấn, nhà ở (sống với bố mẹ hay không), nghề nghiệp (tình trạng, ngƣời tạo thu nhập chính ở gia đình, ông chủ hay ngƣời làm công ăn lƣơng), tình trạng tài chính dự phòng (tiết kiệm gia đình trong năm trƣớc, tầng lớp xã hội, mức thu nhập), nơi cƣ trú (thuộc vùng miền nào, quy mô nơi cƣ trú: thị xã, thành phố, nông thôn), nhóm sắc tộc.
Nghiên cứu của Chang (2010) về giá trị của giới trẻ và cha mẹ ở Singapore đƣợc thiết kế nhƣ một trƣờng hợp thách thức cách giải thích của Inglehart về những ƣu tiên giá trị hàng đầu rút ra từ các cuộc Điều tra giá trị thế giới. Tác giả đã thiết lập một hệ thống giá trị trong đó có các giá trị liên quan đến gia đình có thể kể đến nhƣ: Đối với con cái thì học cách vâng lời và đức tin tôn giáo quan trọng hơn học tính độc lập và quyết đoán; Phá thai là bất hợp pháp; Tình dục đồng giới là không hợp pháp đƣợc xác định nằm ở cả hai trục Giá trị truyền thống và giá trị hợp lí-lâu dài - Giá trị tồn tại và giá trị tự thể hiện. Nhƣ vậy, sự lựa chọn giá trị của các cá nhân đã bƣớc đầu nhìn nhận những sự thay đổi trong bối cảnh xã hội đang thay đổi hiện nay [127]. Trong nghiên cứu của Samonte (2003) về những giá trị mà ngƣời Philippin coi là quan trọng và mong muốn trong thế kỷ XXI đã thu thập ý kiến của 2400 ngƣời ở bốn khu vực (thủ đô và 3 địa điểm khác) năm 1997, bao gồm cả nông thôn và thành thị.
Kết quả khảo sát cho thấy, trong số 10 giá trị đƣợc đa số ngƣời trả lời cho là “rất quan trọng” trong cuộc sống của họ thì có tới 7 giá trị thuộc về gia đình, đó là: có vợ chồng, có tình yêu, có con cái, quan hệ hôn nhân tốt, có đƣợc tình yêu từ con cái, luôn đƣợc gần gũi các con, trƣờng thọ (3 giá trị khác là: có niềm tin vào chúa trời, cầu nguyện và thiền định, làm việc cho nhà thờ). Cũng theo tác giả, ở Philippin gia đình vẫn đóng vai trò trung tâm và then chốt, gia đình là một nguồn cổ vũ động viên rất lớn và cũng là nơi che chở cho các cá nhân. Các giá trị gia đình góp phần làm nên điều này: kính trọng và thƣơng yêu cha mẹ, trách nhiệm chăm sóc con cái, hy sinh cho gia đình, tin tƣởng và hôn nhân nhƣ một thiết chế, và sự không tán thành phụ nữ không chồng mà có con. Đối với hiện tại và trong thiên niên kỷ mới, tác giả đã nhận thấy rằng ngƣời Philippin có vẻ nhƣ thiên về chọn những giá trị gắn với truyền thống, mặc dù vậy họ vẫn mở cửa đối với những gì gắn với công nghiệp hóa và hiện đại hóa [187].
14 Ở Việt Nam, vai trò của gia đình, khía cạnh giá trị của gia đình trong sự phát triển nhân cách của con ngƣời đã và đang trở thành vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý và các tổ chức xã hội. Phạm Minh Hạc (1995b, 2010) cho rằng “Giá trị gia đình là vốn tinh thần của loài ngƣời., là giá trị nhân loại. ở tất cả các thời đại, các châu lục đều mang tính nhân văn, nhân ái, nhân đạo” [22,25]. - Hướng nghiên cứu về biểu hiện của giá trị gia đình Những ví dụ ở phần trên cho thấy giá trị gia đình đƣợc các tác giả xem xét nhƣ một loại giá trị trong hệ thống giá trị của toàn xã hội.
Theo Lê Ngọc Văn (2014), dẫu chỉ là một bộ phận, một hợp phần trong hệ thống giá trị xã hội nhƣng giá trị gia đình không chỉ đơn thuần là một danh xƣng, nó còn là một khái niệm mang đầy đủ ý nghĩa nội hàm và ngoại diên. Cũng theo tác giả, việc khu biệt tiểu hệ giá trị gia đình trong hệ thống các giá trị xã hội có ý nghĩa lý luận và phƣơng pháp luận rất quan trọng. Bởi vì, nếu không có sự khu biệt ấy, trong nghiên cứu về giá trị gia đình chúng ta rất dễ đi lạc sang các vùng giá trị xã hội khác [106]. Theo Jagger và Wright (2003) khi nghiên cứu về giá trị gia đình có bốn nhóm giá trị đƣợc quan tâm bao gồm: i) giá trị gia đình truyền thống; ii) giá trị gia đình đƣợc thể chế hóa trong hệ thống luật pháp thƣờng đƣợc nghiên cứu trong bối cảnh thay đổi luật pháp về gia đình với những biến đổi giá trị gia đình truyền thống; iii) khái niệm gia đình trong mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nƣớc; iv) gia đình trong chuyển đổi từ hiện đại đến hậu hiện đại.
Đối với mỗi nhóm giá trị này lại có những khía cạnh giá trị gia đình khác nhau. Chẳng hạn với gia đình truyền thống, ngƣời ta quan tâm đến những khía cạnh mà con ngƣời hằng mong ƣớc trong quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em với nhau. Đối với mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nƣớc, vấn đề trách nhiệm của nhà nƣớc hay gia đình trong việc chăm sóc ngƣời già và trẻ em đƣợc đặt ra. Một số giá trị gia đình có thể cùng xuất hiện ở nhiều thời kỳ khác nhau nhƣ tình yêu, quan tâm chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau, trách nhiệm và sự cam kết thực hiện nghĩa vụ về lòng hiếu thảo, và sự giao tiếp, sự chung thủy [158].
+ Giá trị gia đình biểu hiện trong hôn nhân Theo Sobotka và Toulemon (2008), các nghiên cứu ở Mỹ đã cho thấy hôn nhân đã trở nên không có vai trò quan trọng trong sản xuất kinh tế, tiêu dùng và chuyển giao tài sản từ thế hệ này sang thế hệ khác. Hôn nhân không còn vai trò ảnh hƣởng đến mối quan hệ giữa nam và nữ, sự chuyển đổi sang giai đoạn trƣởng thành của nam và nữ. Hôn nhân cũng không còn ý nghĩa so sánh khi bàn về trải nghiệm 15 tình dục, sắp xếp cuộc sống, sinh con và nuôi con. Hôn nhân ngày nay không còn ý nghĩa thiêng liêng nhƣ trƣớc mà nó ngày càng đƣợc nhìn nhận về tính thực tiễn hơn là một thiết chế mang tính tôn giáo [195].
Trong nghiên cứu The most Important Person in the World: A look at Contemporary Family value (Ngƣời quan trọng nhất trên thế giới: Nhìn vào giá trị gia đình hiện đại) của Vandenheuvel (1991) cũng cho thấy, việc kết hôn để sinh con và đƣợc an tâm hơn về mặt tài chính không còn đƣợc coi là lý do quan trọng nữa. Hôn nhân không còn là điểm bắt đầu của việc chung sống và bắt đầu có quan hệ tình dục giữa nam và nữ [200]. Theo Manning và cộng sự (2007), hiện nay việc tìm hiểu và kết hôn của thanh niên nam nữ đã có sự chuyển đổi. Thay vì từ làm quen, tìm hiểu rồi đến kết hôn, họ chuyển từ tìm hiểu sang chung sống và sau đó có thể kết hôn hoặc không.