Chương 7 ĐỊNH GIÁ CÁC DỊCH v ụ NGÂN HÀNG Ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế như huy động tiền gửi, cho vay, bảo lãnh, thanh toán, mua bán ngoại tệ. với “giá” nhất định: đó là lãi suất, phí, tỷ giá. Định giá các dịch vụ là nội dung quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập và chi phí của ngân hàng, quyết định khả năng chiếm lĩnh thị trường, khả năng phát triển của ngân hàng. Chương Định giá các dịch vụ của ngân hàng thương mại tập trung nghiên cứu các loại lãi suất, phí, phương pháp xác định lãi suất và phí cho sản phẩm của ngân hàng thương mại.
C Á C L O Ạ I G IÁ SẢN PHẢM CỦA NGÂN HÀNG T H Ư Ơ N G M Ạ I Ngân hàng phải trả lãi cho khách hàng về phần lớn nguồn tiền mà ngân hàng huy động được, cấu thành chi phí của ngân hàng và yêu cầu khách hàng cũng phải trả lãi và phí cho các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp, cấu thành thu nhập của ngân hàng. Do tính chất và yêu cầu về các sàn phẩm, giá các sản phẩm của ngân hàng rất đa dạng cho phép ngân hàng tiếp cận với hàng triệu khách hàng khác nhau với nhu cầu khác nhau. Giá các sản phẩm của ngân hàng có thể chia thành hai loại chính: Lãi suất và phí. Ví dụ, lãi suất tỉền gừi là 12%/ nãm.
Nấu khách hàng gửi vào ngân hàng 100 triệu, với thời hạn 6 tháng, thì ngân hàng sẽ phải trả số tiền lãi cho khách khi đến hạn là: 100 triệu X 6 tháng X 12% /12 = 6 triệu a. Lãi suất huy động và lãi suất tin dụng Lãi suất huy động là các loại lãi suất ngân hàng trả cho nguồn huy động bao gồm ỉãi suất tiền gửi giao dịch, tiết kiệm, lãi suất vay trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất tín dụng như lãi suất chiết khấu, lãi suất cho vay. Để đảm bảo thu nhập ròng dương, lãi suất huy động bình quân phải nhỏ hơn lãi suât tín dụng bình quân.
Lãi suất ngắn hạn và lãỉ suất trung dài hạn Lãi suất được phân biệt theo thời hạn của sản phẩm. Thời hạn càng dài rủi ro càng lớn, do vậy lãi suất suất dài hạn thường cao hơn ngắn hạn. Lãi suất cố định, thả nồi, hoặc hỗn hợp Ngân hàng có thể sử dụng Lãi suất cố định, thả nổi, hoặc hỗn hợp trong các hợp đồng. s Lãi suất cố định Là lãi suất được định trước trong hợp đồng và không thay đồi trong suốt thời gian của hợp đồng.
Lãi suất cố định giúp cho ngân hàng và khách hàng biết trước số lãi (thu được hoặc phải trả), tuy nhiên có thể tạo ra rủi ro lãi suất khi lãi suất thị trường thay đổi lớn. J Ví dụ, ngân hàng cho vay 100 triệu, thời hạn 12 tháng, lãi suất / 12%/năm, trả lãi 2 lần trong kỳ Lãi 6 tháng đầu = 100 triệu X 12%/2 = 6 triệu Lãi 6 tháng sau = 100 triệu X 12%/2 = 6 triệu s L ãi su ất th ả nổi Là lãi suất trong hợp đồng thay đổi theo lãi suất thị trường. Khi ngân hàng áp dụng lãi suất thả nổi, lãi được tính theo lãi suất thị trường vào thời điểm tính lãi. Lãi suất thả nổi có thể hạn chế rùi ro lãi suất cho ngân hàng, tuy nhiên lại gây khó khăn cho khách hàng trong việc lập kế hoạch đầu tư và vì vậy có thể gây rủi ro cho khách hàng.
Ví dụ, ngân hàng cho vay 100 triệu, thời hạn 12 tháng, trả lãi 2 lần trong kỳ, lãi suất thả nổi. N ếu lãi suất cho vay ngắn hạn cùa ngân hàng vào 30/6 là 12% thì Lãi 6 tháng đầu = 100 triệu X 12%/2 = 6 triệu Nếu lãi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng vào 31/12 là 14% thì Lãi 6 tháng sau = 100 triệu X 14%/2 = 7 triệu Trong nhiều trường hợp ngân hàng thả nổi theo một lãi suất nào đó như SIBOR. Ví dụ, ngân hàng cho vay 100 tr, thời hạn 12 tháng, trả lãi 2 lần trong kỳ, lãi suất thả nổi = SIBOR + 2%. Ngân hàng sẽ lấy SIBOR 2 ngày làm việc trước đó để tính lãi suất cho vay.
N ếu SIBOR ngày 28/6 là 4% thì lãi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng vào 30/6 là 6%. Nếu SIBOR ngày 29/12 là 5,25% thì lãi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng vào 31/12 là 7,25% Lãi suất thả nổi thường được áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng hoặc trong cho vay trung và dài hạn. Trong những năm gần đây, trước bất ổn của thị trường tài chính quốc tế và tính liên kết ràng buộc ngày càng tăng giữa các trung gian tài chính, ngân hàng có xu hướng mở rộng phạm vi áp dụng ỉãi suất thả nổi trong quan hệ tài trợ cho khách hàng. s Lãi suất hỗn họp Là sự kết hợp giữa lãi suất thả nổi và cố định: cố định trong một số lần trả lãi và thay đổi sau một số lần trả lãi.
Ví dụ, ngân hàng cho vay 5 năm, thu lãi 3 tháng một lần. Ngân hàng áp dụng lãi suất hiện hành cho năm thứ nhất (cố định trong 1 năm) và sẽ thay đổi lãi suất trong từng năm tiếp theo. Lãi suất hỗn hợp thường được áp dụng cho các khoản huy động và tài trợ trung và đài hạn. Lãi suất trần và sàn Lãi suất trần là mức lãi suất cao nhất.
Lãi suất sàri là mức lãi suất thấp nhất. - Trước hết lãi suất trần và sàn có thể do Ngân hàng trung ương đặt ra và bắt buộc ngân hàng thương mại phải tuân thủ. Để hạn chế các ngân hàng cạnh tranh đẩy giá tiền gửi lên quá cao có thể gây ra khủng hoảng thanh khoản (hoặc độc quyền hạ giá tiền gửi gây tổn hại cho người tiết kiệm), Ngân hàng trung ương quy định lãi suất trần và sàn. Tương tự như vậy đối với lãi suất tín đụng.
Lãi suất trần và sàn ioại này phản ánh sự can thiệp trực tiếp của N gân hàng trung ương vào chính sách lãi suất của ngân hàng thương mại. - Thứ hai, lãi suất trần và sàn do ngân hàng thương mại đặt ra (trong các hợp đồng tài chính). Nếu ngân hàng đang áp dụng lãi suất thả nổi và cho rằng lãi suất có xu hướng tăng, ngân hàng có thể bán hợp đồng trần lãi suất cho vay , tức ỉà lãi suất cho vay cao nhất mà khách hàng phài trả; nếu lãi suất có xu hướng giảm, ngân hàng bán hợp đồng sàn ỉãi suất tiền gửi, tức là lãi suất thấp nhất mà khách hàng được hưởng. Hợp đồng lãi suất này nhàm hạn chế rủi ro lãi suất đối với khách hàng.
Lãi suất thông thường (phổ biến) và lãi suất ưu đãi s Lãi suất thông thường được áp dụng phổ biến cho đa số khách hàng của ngân hàng, đảm bảo cho ngân hàng trang trải chi phí và có thu nhập ròng cần thiết. s Lãỉ suất ưu đãi - Lãi suất ưu đãi do Nhà nước quy định. N hà nước quy định đối với những khách hàng, ngành, vùng đặc biệt như ngành cần khuyến khích, các vùng có nhiều khó khăn. Khi có chính sách ưu đãi lãi suất, N hà nước có thể có chính sách cấp bù lãi suất cho tổ chức tín dụng.
- Lãi suất ưu đãi do ngân hàng thương mại quy định. Ngân hàng thương mại đặt lãi suất ưu đãi áp dụng cho những khách hàng lớn, có uy tín. Lãi suất này thấp hom lãi suất thông thường (phổ biến) song vẫn đảm bảo thu nhập ròng cho ngân hàng do khách hàng không có rủi ro hoặc mức vay rất lớn. Lãi suất nội tệ, ngoại tệ: Lãi suât áp dụng cho nội tệ và ngoại tệ do các loại tiền khác nhau thường có cung cầu và mức độ rủi ro khác nhau.
Tại nhiều nước, trong có Việt Nam, ngoại tệ mạnh (đô la Mỹ) được sử dụng trong thanh toán trong nước và quốc tế. - Ngân hàng có thể xây dựng lãi suất lãi suất cho vay với khách hàng tốt nhất theo phương pháp tổng hợp chi phí với rủi ro bằng không hoặc sử dụng nhiều loại lãi suất tham chiếu (ví dụ ỉãi suất của ngân hàng lớn, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng Trung ương.) làm lãi suất cơ sở. Lựa chọn lãi suất nào làm lãi suất cơ sở ỉà tuỳ thuộc vào mối liên hệ của ngân hàng với thị trường tài chính trong khu vực và sự phát triển của thị trường tài chính khu vực đó. - Trước những nãm 70, các ngân hàng lớn sử dụng ỉãi suất gốc (lãi suất huy động đối với các nguồn tiền chính của ngân hàng) làm lãi suất cơ sở.
Sau những năm 70, với sự phát triển cao của thị trường tài chính, độ nhạy cảm lãi suất lớn, các ngân hàng ở trung tâm tiền tệ thường có xu hướng sử dụng lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng làm lãi suất cơ sở. Sự vận động này bắt đầu bởi cạnh tranh về lãi suất từ phía mở rộng thị trường giấy nợ và từ các ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên lãi suất gốc vẫn là cơ sở của việc đặt giá cho phần ỉớn các khoản cho vay nhỏ. P h í và chênh lệch giá - Bên cạnh lãi suất, ngân hàng thu phí/ hoặc trả phí đối với một số dịch vụ ngân hàng.
Phí thường được tính theo tỷ ]ệ phần trăm trên quy mô sản phẩm. Ví dụ phí bảo lãnh là 0,3% trên số tiền bảo lãnh. Nếu ngân hàng cam kết bảo lãnh số tiền 100 triệu, thì phí ngân hàng thu là: 100 triệu X 0 ,3 % = 0,3 triệu Phí cũng có thể được tính bằng số tuyệt đối trong những trường hợp như số phí tối đa, sổ phí tối thiểu, phí thuê két, phí tư vấn. Phí thường được áp dụng cho hầu hết dịch vụ của ngân hàng như thanh toán, m ua bán hộ, bảo lãnh, cho vay.
Trong hoạt động tín dụng (cho vay, bảo lãnh .) ngân hàng thường sử dụng phí bên cạnh lãi suất để bù đắp một phần chi phí của ngân hàng và phàn ành sự phân biệt về chi phí giữa các dịch vụ. Trong hoạt động huy động vốn ngân hàng thường sử dụng phí để khuyến mại, cạnh tranh. - M ột số dịch vụ mua bán hộ diễn ra liên tục, ví dụ m ua bán ngoại tệ, ngân hàng không trực tiếp thu phí riêng biệt đối với người mua, hoặc người bán. “Giá” dịch vụ này chính là chênh lệch giá mua bán ngoại tệ.
Đ ỊNH GIÁ CÁC SẢN PHẨM CỦA NGÂN HÀNG 7. N hững nhân tố tác động đến giá sản phẩm a.