Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CÔNG BẤT HỢP PHÁP VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Một số vấn đề lý luận về đình công bất hợp pháp 1. Khái niệm và các dấu hiệu của đình công 1. Khái niệm đình công Trên bình diện quốc tế, Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966) của Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã ghi nhận quyền đình công như là một trong những đảm bảo quan trọng cùng với quyền làm việc, quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi.
Theo Điều 8 Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên hợp quốc (1966): “. quyền đình công được thực hiện với điều kiện phù hợp với pháp luật của mỗi quốc gia”. Bên cạnh đó, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng nhìn nhận đình công là biểu hiện của quyền tự do liên kết, quyền tổ chức của NLĐ trong các Công ước số 87 về quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức (1948), Công ước số 98 về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể (1949). Theo quan điểm của ILO, “Quyền đình công là một trong những biện pháp thiết yếu của NLĐ và các tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế, xã hội của mình, không chỉ nhằm đạt tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính chất nghề nghiệp, mà còn nhằm tìm ra những giải pháp cho những vấn đề chính sách kinh tế và xã hội và các vấn đề lao động bất kỳ loại nào mà NLĐ trực tiếp quan tâm ” [23, tr.
Dưới gốc độ của một tổ chức quốc tế, nhận định của ILO về đình công có nội hàm khá rộng, không giới hạn ở việc mô tả các dấu hiệu đặc thù để phân biệt đình công với các hành động công nghiệp khác mà chủ yếu nhấn mạnh đến phạm vi, mục đích của đình công. Với nhũng quy định mở, quan điểm của ILO vì vậy có ý nghĩa định hướng, bởi xét đến cùng, việc ghi nhận, điều chỉnh vấn đề đình công còn phải 7 tính đến các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, yếu tố đặc thù trong văn hóa pháp lý,. của mỗi quốc gia. Một số nước như Đức, Australia, Anh vấn đề đình công được xem xét qua án lệ.
Trong khi đó, nhiều nước trên thế giới lại “mô hình hóa” thành những quy định cụ thể và có sự khác nhau khi đưa ra quan niệm về đình công. Hoa Kỳ cho rằng: “đình công bao gồm mọi cuộc đình công do người lao động (NLĐ) tiến hành hoặc những hành vi ngừng việc khác (bao gồm hành vi ngưng việc do thỏa ước tập thể quá hạn) và mọi cuộc đình công của NLĐ hoặc những hành vi làm gián đoạn sản xuất” [23, tr. Hoặc đơn giản hơn khi không đưa ra những liệt kê chi tiết, Luật quan hệ lao động (QHLĐ) của Thái Lan quy định về đình công như sau: “Đình công là việc những NLĐ ngừng công việc đồng loạt với tính chất tạm thời do có TCLĐ” [23, tr. Một cách cụ thể hơn, BLLĐ của Liên bang Nga đưa ra khái niệm: “Đình công là việc tập thể lao động tự nguyện từ chối tạm thời đối với việc thực hiện trách nhiệm lao động của mình (một phần hoặc toàn bộ) nhằm mục đích giải quyết TCLĐ tập thể” [23, tr.
Mặc dù vẫn chưa thể đưa ra một sự nhìn nhận nhất quán và khái quát về mặt khoa học đối với thuật ngữ đình công, nhưng các quan niệm về đình công nói trên ít nhiều cũng đã đề cập đến một số dấu hiệu như ngừng việc tạm thời, tự nguyện, mục đích giải quyết TCLĐ. ỞViệt Nam, theo Từ điển luật học: “Đình công là đỉnh cao của tranh chập lao động tập thể, được biểu hiện ở sự ngừng việc tập thể. Đình công là biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt của tập thể lao động để đòi NSDLĐ thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động, đòi thỏa mãn các yêu sách và các vấn đề trong QHLĐ” [22, tr. Trong pháp luật Việt Nam, quyền đình công lần đầu tiên được ghi nhận trong BLLĐ 1994 và được bổ sung, chỉnh sửa năm 2006.
Đến BLLĐ 2012, đình công tiếp tục được ghi nhận và được hiểu là: “sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết TCLĐ” [4, Điều 209]. BLLĐ năm 2019 thì quy định: “Đình công là sự 8 ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của NLĐ nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết TCLĐ và do tổ chức đại diện NLĐ có quyền thương lượng tập thể là một bên TCLĐ tập thể tổ chức và lãnh đạo” (Điều 198 BLLĐ). Khái niệm này đã chỉ ra được các dấu hiệu đặc trưng cơ bản của cuộc đình công: như ngừng việc tập thể, tự nguyện, có tổ chức. Tuy nhiên, trong thực tế, đình công không chỉ xảy ra khi có TCLĐ, mà tính chất, mức độ đa dạng, phức tạp phụ thuộc vào nguyện vọng của NLĐ.
Khái niệm đình công được quy định trong pháp luật Việt Nam chỉ đề cập đến vấn đề đình công trong quá trình giải quyết TCLĐ, vô hình chung làm hẹp phạm vi của vấn đề. Với khái niệm này, tính chất, mức độ và nội dung của các cuộc đình công vẫn chưa được bao quát hết vì trên thực tế có những cuộc đình công không nhằm giải quyết TCLĐ (Ví dụ: cuộc đình công phản đối Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) của công nhân Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) PouYuen Việt Nam. Trong 02 ngày 26-27/3/2015, gần 90.000 công nhân Công ty TNHH PouYuen Việt Nam (quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh) đã đình công phản đối các quy định tại Điều 60, Luật BHXH 2014 về việc không cho người tham gia BHXH được hưởng BHXH một lần như trước. Quan niệm đình công trong pháp luật Việt Nam nghiêng về khái niệm đình công bất hợp pháp hơn là khái niệm một cuộc đình công nói chung.
Không thể không thừa nhận rằng đình công là một hiện tượng khá phức tạp, tác động của nó không chỉ giới hạn trong phạm vi đối với “quan hệ chủ - thợ” cũng như không phải chỉ diễn ra trong lĩnh vực kinh tế. Chính vì vậy, vấn đề đình công cần được phân tích, đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh tế, đình công được xem là biện pháp đấu tranh của NLĐ trong nền kinh tế thị trường nhằm bảo vệ các lợi ích phát sinh từ quan hệ lao động,. Trong quan hệ lao động, các bên vừa mâu thuẫn vừa thống nhất về mặt lợi ích: NSDLĐ luôn theo đuổi lợi nhuận tối đa, trong khi đó, lợi ích thiết thân mà NLĐ hướng tới chủ yếu và trước hết là tiền lương, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, các chế độ BHXH, BHYT.
Vì vậy, các bên trong QHLĐ có xu hướng đấu tranh với nhau 9 để quyết định lợi ích kinh tế của chính mình. Tuy nhiên, nếu xét một cách toàn cục thì giữa các bên vẫn tồn tại một lợi ích chung đòi hỏi cần có sự hợp tác bền vững, lâu dài trong QHLĐ. Chính vì thế, NLĐ phải lựa chọn một giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo vẫn có thể vừa duy trì QHLĐ vừa bảo vệ được lợi ích của mình một khi không thể đạt được những thỏa thuận cần thiết. Với giải pháp đình công, hậu quả là tình trạng sản xuất bị đình trệ, hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh sẽ gặp nhiều trở ngại, doanh nghiệp gánh chịu những tổn thất trước khi ổn định lại trật tự.
Như vậy, với khả năng gây ra thiệt hại về kinh tế hay đe doa gây thiệt hại về kinh tế, đình công tạo ra áp lực đối với người sử dụng lao động, đòi hỏi phải có sự cân nhắc về mặt lợi ích trước những yêu sách của tập thể lao động. Chính vì vậy, tuy không phải là biện pháp duy nhất để bảo vệ lợi ích kinh tế hoặc lợi ích nghề nghiệp, nhưng trong nhiều trường hợp khi mâu thuẫn về mặt lợi ích đã trở nên đỉnh điểm, TCLĐ rơi vào bế tắc, tập thể lao động sử dụng đình công như là phương thức đấu tranh kinh tế với người sử dụng lao động. Dưới góc độ xã hội, đình công là sự thể hiện mang tính xã hội của một vấn đề kinh tế. Trước hết, đình công là hiện tượng tập thể, bởi lẽ, nó được thực hiện thông qua hành vi ngừng việc của nhiều NLĐ với ý chí tự nguyện.
Các cuộc đình công có xu hướng tập hợp sự tham gia đông đảo của những NLĐ, thể hiện khả năng liên kết và tổ chức. Điều này cũng phù hợp với nhận xét của một nghiên cứu về đình công ở Việt Nam: “Mặc dù đình công tự phát nhưng các cuộc đình công lại được tổ chức rất tốt, thể hiện sự đoàn kết cao trong công nhân ” [9, tr. Trên thực tế, các cuộc đình công được tổ chức đã thu hút hàng trăm đến hàng ngàn người tham gia như các cuộc đình công ở các công ty Sam Yang (Thành phố Hồ Chí Minh), Doanh Đức (Bình Dương), Keyhinge Toy’s (Đà Nẵng),. Nghiên cứu về mặt tác động xã hội thì đình công, một mặt đem lại những ảnh hưởng tích cực như góp phần tăng cường lợi ích cho NLĐ, tạo dựng QHLĐ lành mạnh, bảo vệ những giá trị tiến bộ xã hội trong lĩnh vực lao động,.
Nhưng mặt khác, đình công cũng tiềm ẩn khả năng gây ra các tác động tiêu cực về mặt xã hội. 10 Trong nhiều trường hợp, đình công với đông người tham gia diễn biến rất phức tạp gây nền tình trạng mất an ninh trật tự, rối loạn xã hội và thậm chí như Ai Cập khủng hoảng chính trị bắt đầu từ đình công lan rộng và không thể kiểm soát. Dưới góc độ pháp lý, trước hết cần phải khẳng định: đình công là một trong những quyền cơ bản của NLĐ. Thứ hai, là quyền của cá nhân NLĐ nhưng đình công chỉ được thừa nhận khi nó được thực hiện thông qua hành vi mang tính tập thể: sự ngừng việc của tập thể lao động một cách tự nguyện, có tổ chức với những mục tiêu chung.
Ngoài ra, quyền đình công được sử dụng như là “vũ khí cuối cùng” trong những điều kiện nhất định, do vậy, nó phải đảm bảo trong khuôn khổ pháp luật và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định. Tóm lại, đình công là hiện tượng khách quan trong nền kinh tế thị trường.