CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Khái quát một số vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 1. Khái niệm về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Từ “Đình chỉ” theo Từ điển Tiếng Việt nêu nghĩa đó là: “Đình chỉ là ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại trong một thời gian hay vĩnh viễn”1.Như vậy, từ đình chỉ là động từ được dùng cho một vật, một việc thể hiện việc ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại không tiếp tục thực hiện nữa trong một khoảng thời gian nhất định, cụ thể hoặc vĩnh viễn. Trong tố tụng nói chung thì từ “đình chỉ” được hiểu là việc giải quyết vụ án được ngừng lại trong thời gian vĩnh viễn khi có những căn cứ mà pháp luật quy định.
Trong tố tụng dân sự nói riêng thì cụm từ “đình chỉ” được hiểu theo nghĩa là việc giải quyết VADS được cơ quan tiến hành tố tụng ngừng lại và vụ án có Quyết định ĐCGQVADS nếu có căn cứ luật định. Quyết định ĐCGQVADS là một trong bốn Quyết định mà khi rơi vào các trường hợp do pháp luật quy định, thì Thẩm phán - người tiến hành tố tụng được phân công để giải quyết VADS phải ban hành trong thời hạn chuẩn bị xét xử2. Khái niệm ĐCGQVADS được các nhà khoa học Việt Nam đề cập trong nhiều tài liệu với những khía cạnh khác nhau. Cụ thể: Có quan điểm cho rằng: “Đình chỉ là một phương thức giải quyết đặc biệt của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự” và “Đình chỉ giải quyết vụ án là chấm dứt tố tụng dân sự khi có những căn cứ nhất định mà không thông qua xét xử hay hòa giải”3.
Nhận thấy, tác giả Tống Công Cường đã nêu khái quát được việc ĐCGQVADS thuộc thẩm quyền của Tòa án và đình chỉ là một trong những phương thức giải quyết của Tòa đối với vụ việc cần giải quyết bao gồm: Ra Bản án thông qua xét xử hay ra quyết định thỏa thuận thông qua phương thức hòa giải4. Tác giả đã giải thích được rằng việc đình chỉ sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý đó là làm chấm dứt các thủ tục tố tụng dân sự, nghĩa là Tòa án sẽ chấm dứt việc thực hiện 1 Từ điển tiếng Việt thông dụng, Phạm Lê Liên (chủ biên) năm 2016,NXB Hồng Đức, trang 282. 2Nguyễn Duy Lãm (chủ biên) (1999), Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nhà xuất bản Công an nhân dân, trang 134. 3 Tống Công Cường, Tại chí khoa học pháp lý số 4 (41), năm 2007, Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh. 4 Tống Công Cường, Luật tố tụng dân sự Việt nam: Nghiên cứu so sánh, NXB Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, năm 2007, trang290. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công việc theo trình tự, thủ tục tố tụng quy định của mình để giải quyết vụ việc dân sự.
Tuy nhiên, quan điểm của tác giả Tống Công Cương chưa nêu được đầy đủ về thời gian của việc ngừng lại, chấm dứt hoạt động tố tụng dễ gây khó hiểu và nhầm lẫn với khái niệm Tạm đình chỉ. Đồng thời, cách hiểu về việc ĐCGQVADS là làm chấm dứt hoạt động tố tụng khi có căn cứ luật định mà không cần thông qua xét xử và hòa giải là không đúng. Bởi lẽ, việc đình chỉ giải quyết vụ án có thể được tiến hành ở giai đoạn phúc thẩm, sau khi đã có bản án tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hoặc có thể Tòa án ra quyết định đình chỉ ngay tại phiên toà xét xử khi có căn cứ luật định; Ngoài ra, Tòa án ra quyết định đình chỉ trong trường hợp hòa giải thành mà một trong các bên yêu cầu dừng giải quyết vụ án (Ví dụ: Trong vụ án ly hôn, khi Tòa án hòa giải hành vợ chồng đã đoàn tụ thì Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án). Quan điểm khác thì cho rằng: “Tòa án ngừng việc giải quyết VADS đã thụ lý.Việc đình chỉ giải quyết vụ án có thể được tiến hành ở Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm”5.
Hay như quan điểm: “ĐCGQVADS là việc Tòa án quyết định ngừng việc giải quyết VADS khi có những căn cứ do pháp luật quy định”6. Các quan điểm này của các tác giả đều nêu lên một khía cạnh khác về bản chất đình chỉ VADS; Thể hiện quan niệm, cách hiểu khác nhau về ĐCGQVADS, tuy không được đầy đủ nhưng cơ bản đã nêu lên nội dung và bản chất về ĐCGQVADS. Bên cạnh đó, quan điểm khác nêu “ ĐCGQVADS là việc Tòa án quyết định ngừng hẳn việc giải quyết VADS đã thụ lý và sau khi quyết định ĐCGQVADS có hiệu lực pháp luật thì về nguyên tắc đương sự không có quyền khởi kiện lại để Tòa án giải quyết vụ án đó nữa. Việc ĐCGQVADS có thể dựa trên cơ sở phát sinh sự kiện làm cho đối tượng của vụ án cần giải quyết ở Tòa án không còn hoặc được suy đoán là không còn tồn tại; VADS đã thụ lý sẽ được giải quyết cùng với các quan hệ pháp luật khác trong một vụ án khác; có sự sai lầm của Tòa án trong việc thụ lý vụ án”7.
Như vậy, có thể thấy cái nhìn, đưa ra quan điểm khá toàn diện và khái quát về ĐCGQVADS. Tác giả đã nêu được toàn 5 Nguyễn Công Bình (chủ biên) (2018), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, trang 274. 6 Thạc sỹ Nguyễn Bích Thảo, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Khoa Luật trường đại học quốc gia Hà Nội, NXB Đại học quốc gia Hà Nội năm 2014, trang 256.Trần Anh Tuấn (Chủ biên) (2017), Bình luận Khoa học bộ luật tố tụng dân sự 2015, NXB Tư pháp, trang 681. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bộ về thẩm quyền, nội dung, căn cứ và hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án.
Khác với những tác giả nêu trên, thì tác giả Trần Anh Tuấn chỉ ra cụ thể, dễ hiểu hơn về đình chỉ VADS đó là: Thứ nhất, việc ĐCGQVADS thuộc thẩm quyền của cơ quan quan tiến hành tố tụng trực tiếp là Tòa án - cơ quan duy nhất có thẩm quyền này. Bởi Hiến pháp và pháp luật đã quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án đó là cơ quan tư pháp và có nhiệm vụ: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”8. Do đó, Tòa án có chức năng giải quyết các VADS, và trong quá trình giải quyết có đủ căn cứ thì Tòa án buộc ĐCGQVADS. Và tác giả cũng nêu rõ là ĐCGQVADS là “ngừng hẳn” việc giải quyết VADS sau khi đã “thụ lý”.
Đồng thời, trong khái niệm đã nêu rõ được đặc điểm, bản chất của ĐCGQVADS khác với việc tạm đình chỉ là ngừng giải quyết trong một thời gian, khi đủ điều kiện thì tiếp tục giải quyết. Việc ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án chỉ được thực hiện kể từ sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án vào sổ thụ lý, để phân biệt với những trường hợp khác đó là Tòa án trả lại đơn khởi kiện như trường hợp “Hết thời hạn được thông báo để nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không nộp hoặc không đến Tòa án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng”9 thì Tòa án không đình chỉ được vì chưa thụ lý vụ án hoặc Tòa án chuyển thẩm quyền cho Tòa án khi phát hiện không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mình. Hơn nữa, Trong khái niệm tác giả nêu khái quát những căn cứ theo luật định để ĐCGQVADS đó là: Sự kiện làm cho đối tượng của vụ án không còn có thể là các sự kiện như đương sự chết mà quyền và nghĩa vụ không được thừa kế do tính chất của quan hệ pháp luật mà Tòa án cần giải quyết (quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng); Sự việc đã được giải quyết bằng bản án , quyết định có hiệu lực pháp luật; người có nghĩa vụ chết nhưng không để lại di sản thừa kế; Đương sự là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, bị tuyên bố phá sản mà không có chủ thể kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; Chủ thể khởi kiện đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; Các đương sự tự hòa giải. Sự kiện dẫn tới suy đoán đối tượng của vụ án không còn tồn tại là trường hợp nguyên đơn được coi như là từ bỏ yêu cầu khởi kiện của VADS do được triệu tập lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng.
Sự kiện dẫn tới quan hệ pháp luật là đối tượng của VADS đã được thụ lý 8 Xem tại Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013. 9 Xem tại điểm d khoản 1 Điều 192, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sẽ được giải quyết cùng với quan hệ pháp luật khác trong một vụ án khác là trường hợp đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mà một bên đương sự trong VADS mà việc giải quyết vụ án này có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó. Việc kiện yêu cầu thanh toán hay thực hiện nghĩa vụ tài sản mà Tòa án thụ lý sẽ được giải quyết trong vụ án về giải quyết yêu cầu phá sản cùng với các chủ nợ khác để đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ.
Có sự sai lầm của Tòa án trong việc thụ lý vụ án là trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án mặc dù không thỏa mãn các điều kiện thụ lý mà pháp luật quy định, nhưng vì một lý do nào đó mà Tòa án vẫn thụ lý để sửa chữa những sai sót này thì Tòa án ra quyết định ĐCGQVADS. Và một điểm mới đó là hậu quả của việc ĐCGQVADS ngoài việc chấm dứt việc xem xét, quyết định về toàn bộ các quan hệ pháp luật cần phải giải quyết trong vụ án theo thủ tục tố tụng thì còn hậu quả pháp lý nữa là các đương sự trong vụ án không có quyền khởi kiện lại yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó nữa; Tuy nhiên, ngoại trừ những trường hợp khác mà pháp luật có quy định thì đều có quyền khởi kiện lại10. Trên là những quan điểm, cách hiểu trên nhiều phương diện, góc độ khác nhau của các nhà Luật gia trong quá trình nghiên cứu góp phần hoàn thiện pháp luật. Các nhà luật gia đã nêu lên được đầy đủ về khái niệm ĐCGQVADS.