Điều tra phân bố và đề xuất các biện pháp bảo tồn loài bát giác liên podophyllum tonkinense gagnep tại vườn quốc gia ba vì hà nội

Điều tra phân bố và bảo tồn loài Bát giác liên Ba Vì, nghiên cứu về tình trạng và biện pháp bảo vệ loài động vật quý hiếm tại khu vực Ba Vì.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2015

67
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH LỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

DANH LỤC HÌNH

1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Các nghiên cứu trên thế giới

1.2. Các nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam

1.3. Các công trình nghiên cứu tại Vườn Quốc gia Ba Vì

1.4. Các thông tin về loài Bát giác liên

2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nội dung nghiên cứu

2.1.1. Phân bố loài Bát giác liên

2.1.2. Cấu trúc rừng tại khu vực có phân bố của Bát giác liên

2.1.3. Xác định các nhân tố tác động tiêu cực đến loài

2.1.4. Đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển các loài Bát giác liên

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp kế thừa tài liệu

2.3.2. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

2.3.3. Phương pháp nội nghiệp

3. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Địa hình, địa thế

3.1.3. Địa chất, đất đai

3.1.4. Khí hậu thủy văn

3.1.5. Thủy văn và tài nguyên nước

3.1.6. Tài nguyên rừng

3.1.6.1. Diện tích các loại rừng
3.1.6.2. Trữ lượng các loại rừng

3.1.7. Thảm thực vật, động vật và phân bố của các loài quý hiếm

3.2. Đặc điểm cơ bản về kinh tế xã hội

3.2.1. Dân tộc, dân số và lao động

3.2.2. Tình hình phát triển kinh tế chung

3.2.3. Hiện trạng xã hội và cơ sở hạ tầng tại các xã vùng Đệm

3.2.4. Đánh giá chung về kinh tế, xã hội

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Phân bố loài Bát giác liên

4.1.1. Phân bố theo mặt phẳng thẳng đứng

4.1.1.1. Phân bố theo độ cao so với mặt nước biển
4.1.1.2. Phân bố theo độ cao tương đối (chân, sườn, đỉnh)
4.1.1.3. Phân bố theo tầng tán rừng

4.1.2. Phân bố theo mặt phẳng ngang

4.1.3. Phân bố theo thời gian

4.2. Cấu trúc rừng tại khu vực có phân bố của Bát giác liên

4.2.1. Cấu trúc tầng tán rừng tại khu vực có Bát giác liên phân bố

4.2.2. Cấu trúc tổ thành rừng

4.2.2.1. Tổ thành tầng cây cao
4.2.2.2. Tổ thành tầng cây tái sinh

4.2.3. Cấu trúc mật độ

4.2.3.1. Mật độ và các chỉ tiêu sinh trưởng tầng cây gỗ
4.2.3.2. Mật độ và các chỉ tiêu sinh trưởng tầng cây tái sinh

4.3. Các nhân tố tác động tiêu cực đến Bát giác liên tại VQG Ba Vì

4.3.1. Nhóm nhân tố do con người

4.3.2. Nhóm nhân tố từ tự nhiên

4.4. Đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển các loài Bát giác liên

4.4.1. Bảo tồn nguyên vị

4.4.2. Bảo tồn chuyển vị

4.4.3. Biện pháp giáo dục

4.4.4. Chính sách về pháp luật

4.4.5. Các giải pháp về kinh tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

1. Phụ lục 1: Tọa độ bắt gặp Bát giác liên

2. Phụ lục 2: Số liệu điều tra tầng cây gỗ

Tóm tắt

I. Tổng quan loài Bát giác liên Dược liệu quý tại VQG Ba Vì

Loài Bát giác liên (Podophyllum tonkinense Gagnep.) là một trong những nguồn gen thực vật quý giá của hệ thực vật Vườn quốc gia Ba Vì. Thuộc họ Hoàng liên gai (Berberaceae), loài cây này được biết đến với nhiều tên gọi khác như cây một lá hai hoa. Đây là loài cây thảo, sống lâu năm, có chiều cao trung bình từ 30-50cm, với thân rễ cứng chia nhiều đốt và hệ rễ nhỏ dạng sợi. Đặc điểm hình thái nổi bật là lá có 6-8 cạnh, mép răng cưa, gân lá hình khiên, và cụm hoa màu đỏ tím mọc độc đáo bên dưới tán lá. Do giá trị dược liệu cao và vẻ ngoài đặc biệt, Bát giác liên không chỉ là một cây dược liệu quý mà còn có tiềm năng làm cây cảnh. Tuy nhiên, theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), loài này được xếp ở mức độ Nguy cấp (EN), cho thấy tình trạng đáng báo động trong tự nhiên. Việc khai thác quá mức để làm thuốc và môi trường sống bị thu hẹp là những nguyên nhân chính đẩy loài cây này đến bờ vực tuyệt chủng. Do đó, các nghiên cứu khoa học nhằm điều tra phân bố và đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học cho loài Bát giác liên là nhiệm vụ cấp thiết, góp phần bảo vệ một tài sản thiên nhiên quan trọng của Việt Nam.

1.1. Đặc điểm nhận dạng loài Podophyllum tonkinense

Podophyllum tonkinense, hay Bát giác liên, là cây thân thảo cao khoảng 46 cm. Thân cây mọc thẳng đứng, nhẵn, màu lục. Lá thường có 1-2 cái, mọc so le, phiến lá hình khiên với 6-8 góc cạnh, mép có răng cưa sắc. Điểm đặc biệt nhất là hoa mọc thành cụm từ 4-12 cái ngay dưới tán lá, có hình dạng như chiếc lồng đèn màu đỏ tím sẫm. Mỗi bông hoa có 6 cánh mỏng xếp thành hai vòng và 6 nhị. Mùa hoa quả của cây thường rơi vào tháng 3 đến tháng 5 hàng năm. Những đặc điểm này giúp nhận dạng loài một cách chính xác trong các cuộc điều tra thực địa, phân biệt với các loài thực vật khác cùng sinh cảnh.

1.2. Giá trị y học và tầm quan trọng của cây dược liệu quý

Bát giác liên là một cây dược liệu quý được y học cổ truyền sử dụng để điều trị nhiều bệnh như lao thương, ho, hen, viêm họng, và các vết thương do rắn cắn. Thân rễ của cây chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học cao, tiêu biểu là berberin có tác dụng kháng viêm, giải độc. Ngoài ra, các nghiên cứu trên thế giới về chi Podophyllum đã chỉ ra sự hiện diện của Podophyllotoxin, một hợp chất có khả năng chống ung thư. Giá trị này khiến Bát giác liên trở thành đối tượng bị săn lùng và khai thác cạn kiệt. Việc bảo tồn loài không chỉ là bảo vệ một nguồn gen thực vật hiếm mà còn là gìn giữ tiềm năng phát triển các loại thuốc mới trong tương lai.

II. Hiện trạng và các yếu tố đe dọa loài Bát giác liên ở Ba Vì

Hiện trạng quần thể của loài Bát giác liên tại Vườn Quốc gia Ba Vì đang ở mức báo động. Các cuộc điều tra chỉ ghi nhận được một số lượng cá thể rất hạn chế, cho thấy sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng và phạm vi phân bố. Loài cây dược liệu quý này đang phải đối mặt với nhiều áp lực từ cả con người và tự nhiên. Sự khai thác trái phép lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là các loài cây thuốc, là mối đe dọa trực tiếp và nguy hiểm nhất. Bên cạnh đó, các hoạt động phát triển du lịch thiếu kiểm soát cũng gián tiếp làm thay đổi và thu hẹp môi trường sống của chúng. Các yếu tố tự nhiên như cháy rừng, sâu bệnh hại, và sự cạnh tranh của các loài ngoại lai cũng góp phần làm suy yếu quần thể. Việc xác định chính xác các yếu tố đe dọa này là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng các chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học phù hợp và hiệu quả, nhằm cứu loài loài quý hiếm này khỏi nguy cơ biến mất hoàn toàn khỏi hệ sinh thái Ba Vì.

2.1. Phân tích hiện trạng quần thể Bát giác liên

Kết quả nghiên cứu của Kiều Thị Thu (2015) tại VQG Ba Vì chỉ ghi nhận được 23 cá thể Bát giác liên trên các tuyến điều tra. Hầu hết các cá thể được tìm thấy đều là cây trưởng thành, đang trong giai đoạn ra hoa, sinh trưởng tốt. Tuy nhiên, sự vắng bóng của cây con và cây non cho thấy khả năng tái sinh tự nhiên của quần thể thực vật này rất kém. Số lượng cá thể ít ỏi và phân bố rải rác làm tăng nguy cơ giao phối cận huyết, suy giảm đa dạng di truyền và khiến quần thể dễ bị tổn thương trước các biến động của môi trường. Đây là một thực trạng đáng lo ngại, đòi hỏi phải có biện pháp can thiệp khẩn cấp.

2.2. Xác định các yếu tố đe dọa từ con người và tự nhiên

Mối đe dọa lớn nhất đối với Bát giác liên tại Ba Vì đến từ hoạt động của con người. Việc khai thác dược liệu trái phép để bán đã làm cạn kiệt số lượng cá thể trong tự nhiên. Thêm vào đó, các hoạt động du lịch như xây dựng cơ sở hạ tầng, di chuyển của du khách có thể làm xáo trộn lớp thảm mục và đất bề mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của loài. Về mặt tự nhiên, mặc dù nguy cơ không cao, nhưng cháy rừng và sâu bệnh vẫn là những yếu tố tiềm tàng có thể gây hại cho quần thể thực vật vốn đã rất mỏng manh này. Việc nhận diện rõ các mối nguy này giúp khoanh vùng và ưu tiên các hoạt động bảo tồn.

III. Phương pháp điều tra phân bố loài Bát giác liên tại Ba Vì

Để xác định chính xác vùng phân bố của Bát giác liên, các nhà khoa học đã tiến hành một cuộc nghiên cứu khoa học bài bản tại Vườn Quốc gia Ba Vì. Phương pháp chính là điều tra theo tuyến kết hợp lập ô tiêu chuẩn. Dựa trên các tài liệu cũ và phỏng vấn người dân địa phương, các tuyến điều tra được thiết kế đi qua những khu vực có khả năng tồn tại của loài. Khi phát hiện cá thể Bát giác liên, tọa độ GPS được ghi lại chính xác. Dữ liệu thu thập được sau đó được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng như MapInfo để xây dựng bản đồ phân bố thực vật. Cách tiếp cận này không chỉ xác định vị trí mà còn cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm sinh tháimôi trường sống ưa thích của loài, làm cơ sở cho các biện pháp bảo tồn sau này. Kết quả điều tra là một tài liệu khoa học quan trọng, giúp các nhà quản lý Vườn Quốc gia Ba Vì có cái nhìn tổng thể về hiện trạng quần thể của loài quý hiếm này.

3.1. Đặc điểm sinh thái và môi trường sống đặc trưng

Kết quả điều tra cho thấy Bát giác liên có những yêu cầu sinh thái rất đặc thù. Loài này chủ yếu phân bố ở đai cao từ 600m đến 800m so với mực nước biển, tập trung tại khu vực sườn núi có hướng Đông Bắc. Chúng là loài cây ưa bóng, thường mọc dưới tán rừng kín thường xanh, nơi có độ ẩm cao, lớp thảm mục dày và đất giàu dinh dưỡng. Bát giác liên sinh trưởng ở tầng cây bụi và thảm tươi, gần sát mặt đất, cùng với các loài cây gỗ như Kháo tầng, Dẻ gai. Việc hiểu rõ những đặc điểm sinh thái này là chìa khóa để xác định các khu vực ưu tiên cho công tác bảo tồn tại chỗ (in-situ).

3.2. Xây dựng bản đồ phân bố thực vật chi tiết tại VQG Ba Vì

Từ 23 điểm tọa độ GPS thu thập được, một bản đồ phân bố thực vật chi tiết cho loài Bát giác liên đã được xây dựng. Bản đồ cho thấy các cá thể tập trung chủ yếu quanh các khu vực như phế tích hội trại hè thời Pháp (cốt 700m), nhà thờ Pháp (cốt 800m) và đền thờ Bác Hồ (cốt 1100m). Việc trực quan hóa dữ liệu phân bố giúp các nhà quản lý dễ dàng khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt, thiết lập các tuyến tuần tra hiệu quả và giám sát sự thay đổi của quần thể thực vật theo thời gian. Đây là công cụ không thể thiếu trong quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học hiện đại.

IV. Top 5 giải pháp bảo tồn Bát giác liên hiệu quả nhất tại Ba Vì

Dựa trên kết quả điều tra về phân bố và các mối đe dọa, một hệ thống các biện pháp bảo tồn toàn diện cho Bát giác liên đã được đề xuất. Mục tiêu không chỉ là bảo vệ số cá thể còn lại mà còn phục hồi và phát triển quần thể một cách bền vững. Các giải pháp này kết hợp cả phương pháp khoa học kỹ thuật và chính sách quản lý, với sự tham gia của cộng đồng. Trọng tâm của chiến lược là áp dụng đồng bộ các biện pháp bảo tồn tại chỗ (in-situ)bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ). Bên cạnh đó, các giải pháp về giáo dục, chính sách và kinh tế cũng đóng vai trò hỗ trợ quan trọng, tạo ra một hành lang pháp lý và xã hội vững chắc cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Ba Vì. Việc thực thi hiệu quả các giải pháp này sẽ quyết định tương lai của loài quý hiếm này.

4.1. Kỹ thuật bảo tồn tại chỗ in situ cho quần thể thực vật

Bảo tồn tại chỗ (in-situ) là ưu tiên hàng đầu. Biện pháp này bao gồm việc khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực có Bát giác liên phân bố tự nhiên. Cần tăng cường tuần tra, kiểm soát chặt chẽ để ngăn chặn các hoạt động khai thác trái phép. Đồng thời, cần thực hiện các biện pháp phục hồi sinh cảnh, làm giàu rừng bằng cách trồng bổ sung các loài cây bản địa để duy trì cấu trúc và độ tàn che lý tưởng cho quần thể thực vật phát triển.

4.2. Hướng dẫn bảo tồn chuyển chỗ ex situ nguồn gen thực vật

Do số lượng cá thể trong tự nhiên quá ít, bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) là giải pháp cần thiết để bảo vệ nguồn gen thực vật. Biện pháp này bao gồm việc thu thập hạt giống hoặc cây con từ tự nhiên để nhân giống và gây trồng trong các khu vực được kiểm soát như vườn thực vật, vườn thuốc của Vườn Quốc gia hoặc trong các mô hình trồng cây dược liệu của người dân vùng đệm. Thành công của phương pháp này sẽ tạo ra nguồn giống để tái thả trở lại tự nhiên và giảm áp lực khai thác.

4.3. Nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh học

Giải pháp mang tính bền vững là giáo dục và tuyên truyền. Cần tổ chức các chương trình nâng cao nhận thức cho cộng đồng địa phương và du khách về giá trị của Bát giác liên và tầm quan trọng của bảo tồn đa dạng sinh học. Việc xây dựng các bảng diễn giải, pano thông tin tại các khu du lịch và phát triển các chương trình du lịch sinh thái có trách nhiệm sẽ góp phần biến người dân và du khách thành những đồng minh trong công tác bảo tồn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Lâm sản ngoài gỗ là những sản phẩm từ rừng mang lại. Chúng rất phong phú, đa dạng đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học của rừng, công tác bảo tồn nguồn gen cũng nhƣ gắn liền với thu nhập kinh tế của ngƣời dân, đặc biệt là ngƣời dân bản địa. Xuất phát từ những lợi ích đó, chúng đã và đang bị con ngƣời khai thác một cách quá mức cạn kiệt nhƣng chƣa nhận thức đƣợc hành vi của mình đồng thời cũng chƣa có kiến thức về các biện pháp gây trồng hay khai thác một cách bền vững có khoa học. Đặc biệt những cây dƣợc liệu quý hiếm có giá trị cao về mặt kinh tế, cũng nhƣ y học lại càng bị khai thác một cách triệt để.

Vƣờn Quốc gia Ba Vì là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng ở Việt Nam. Có thể nói không một khu vực nào lại có sự ƣu đãi của thiên nhiên nhƣ Vƣờn Quốc gia Ba Vì. Ở đây có hệ động thực vật phong phú và đa dạng. Hiện tại, ngƣời ta đã biết có 1209 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 633 chi và 160 họ (Theo danh mục thực vật đã đƣợc thu thập mẫu và kết quả điều tra bổ sung năm 2008), trong số đó có khoảng 200 loài cây dƣợc liệu, nhiều loài quý nhƣ Bách xanh, Đỉnh tùng, Lát hoa, Trầu tiên, Lan kim tuyến, Hoàng tinh hoa trắng…về động vật, có 45 loài thú, 115 loài chim, 61 loài bò sát và 27 loài ếch nhái.

Trong đó có nhiều loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới nhƣ Gà lôi trắng, Khỉ, Báo, Sóc bay,…Loài Bát giác liên (Podophyllum tonkinense Gagnep.) thuộc họ Hoàng liên gai (Berberidaceae) đƣợc Sách Đỏ Việt Nam (phần thực vật) xếp vào mức Nguy cấp cũng có phân bố tại Vƣờn Quốc gia Ba Vì. Bát giác liên là một loài đa tác dụng có giá trị cao về nhiều mặt nhƣ: đa dạng sinh học, là nguồn gen quý hiếm (hoa mọc ở dƣới lá), làm dƣợc liệu (chữa các bệnh rắn cắn, ung nhọt, giải độc); có thể làm cây cảnh khi hình dạng lá và hoa đặc biệt. Chính vì vậy trong tự nhiên loài này đang bị ngƣời dân khai thác quá mức. Việc nghiên cứu đặc tính sinh học và sinh thái học của loài để xây dựng các giải pháp bảo tồn và phát triển loài là rất cấp thiết hiện nay.

1 Nhằm củng cố kiến thức chuyên môn, áp dụng và bổ sung các kiến thức vào thực tế cũng nhƣ góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu để bảo tồn các loài thực vật quý hiếm, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Điều tra phân bố và đề xuất các biện pháp bảo tồn loài Bát giác liên (Podophyllum tonkinense Gagnep.) tại Vƣờn Quốc gia Ba Vì - Hà Nội”. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, từ thời xa xƣa con ngƣời đã biết khai thác và sử dụng cây thuốc nam để chữa bệnh. Ngƣời đã tìm tìm thấy những tài liệu liên quan tới thực vật ở Ai Cập khoảng những năm 3000 - 5000 TCN.

Thời kì này y học Ai Cập đã biết nhận diện các loại cây chữa bệnh và loài có hại cho sức khỏe từ đó hình thành những kinh nghiệm đầu tiên về sử dụng thực vật chữa bệnh. Trong y học Ayurveda (y học cổ truyền Ấn Độ) thống kê có khoảng 2.000 loài cây cỏ có công dụng làm thuốc. Y học Trung Quốc cũng hình thành và phát triển rất sớm với thuyết âm dƣơng ngũ hành. Nhiều tác phẩm nổi tiếng nhƣ Thần nông bản thảo, Hoàng đế nội kinh.

Năm 1977 trong cuốn “Từ điển bách khoa về các phƣơng thuốc cổ truyền Trung Quốc” thống kê 5.757 mục từ, đa số là thảo mộc. Cuốn sách "Cây thuốc Trung Quốc" xuất bản năm 1985 đã liệt kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc từ trƣớc tới nay. Y học cổ Hy Lạp có Hyppocrate (460- 370 TCN) đƣợc xem là ông tổ của ngành y phƣơng tây hiện nay. Biểu tƣợng con rắn quấn quanh thân gậy phép của Esculape thời Hy lạp cổ đã trở thành biểu tƣợng y học của rất nhiều tổ chức trên thế giới hiện nay nhƣ Tổ chức Y tế thế giới, Hội y học Hoàng gia, Hội y học Hoa kì… Thầy thuốc ngƣời Hy Lạp Pedanius Dioscoride một bác sĩ, nhà dƣợc học, nhà thực vật học.

Ông là tác giả của bách khoa toàn thƣ về y học thảo dƣợc và các chất có liên quan đã thống kê có 600 loài thảo mộc. Nicholas Culpeper xuất bản cuốn dƣợc thảo “The English Physitian” (1652) và Complete Herbal (1653) trong đó chứa đựng những kiến thức về thảo dƣợc và dƣợc phẩm. Một số tác phẩm nghiên cứu thực vật nổi tiếng trên thế giới nhƣ: Thực vật chí Honking (1981), Thực vật trí Australia, Thực vật chí Tây Bắc và trung tâm Ấn Độ, Thực vật chí Malaysia. 3 Trong thời gian gần đây, thực vật là đối tƣợng đặc biệt đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm và cố gắng đánh giá đúng vị trí, vai trò chức năng sử dụng của nó trong nhiều lĩnh vực nhƣ thức ăn, thuốc chữa bệnh, trang phục, dụng cụ, các nghi lễ tôn giáo, môi trƣờng…ở từng vùng địa phƣơng khác trên thế giới.

Trong đó, cây thuốc đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu nhiều nhất. Nhìn chung xã hội phát triển nên kéo theo nhu cầu của con ngƣời ngày càng cao. Các giá trị thực tiễn của thực vật đƣợc các nhà khoa học quan tâm và đánh giá đúng về các sản phẩm vừa chữa trị tận gốc các căn bệnh mà không để lại tác dụng phụ. Các sản phẩm thảo dƣợc, thực phẩm chức năng ra đời đáp ứng đƣợc vừa có thể chữa bệnh nhƣng lại đảm bảo không gây hại cho cơ thể khi sử dụng lâu dài nên do đó cây dƣợc liệu ngày càng đƣợc khai thác mạnh.

Đặc biệt khi những cây dƣợc liệu quý mang lại lợi nhuận kinh tế cao lại càng bị khai thác quá mức, đe dọa sinh tồn một số loài. Các nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam Việt Nam là quốc gia đƣợc đánh giá cao về sự phong phú, ý nghĩa thực tiễn của nguồn tài nguyên cây thuốc. Nên việc sử dụng thực vật làm dƣợc liệu rất sớm đƣợc đúc kết kinh nghiệm và lƣu truyền trong cộng đồng các dân tộc. Từ thời xa xƣa dân tộc ta đã gây dựng đƣợc một nền y học cổ truyền để phòng và chữa một số loại bệnh nhƣ uống nƣớc vối để giúp tiêu hóa tốt, phòng bệnh, nhai trầu để bảo về răng… Trong thời kỳ độc lập (937-1399), vào thời nhà Lý, ở xã Đại Yên (Hà Nội), đời nhà Trần, Thái Y Viện đã tổ chức đi sƣu tầm thuốc ở núi Yên Tử (Đông Triều - Quảng Ninh), Phạm Ngũ Lão xây dựng vƣờn thuốc Vạn Yên và gây rừng thuốc dƣợc sản ở Phả Lại (huyện Chí Linh) để phục vụ quân đội đánh giặc ngoại xâm.

Từ thế kỉ XIV- XVIII xuất hiện những danh y nhƣ Tuệ Tĩnh với “Hồng nghĩa giác tƣ y thƣ” những phƣơng thuốc trong và ngoài nƣớc. Thời Lý Thái Tổ (1429), Phan Phù Tiên xuất bản cuốn “Bản thảo thực vật toàn yếu”; thế kỷ XVI, Lê Quý Đôn trong bộ “Vân đài loại ngữ” (1417) đã sơ bộ phân loại thực 4 vật thành nhiều loại: cây cho hoa, cho quả, cây ngũ cốc, cây rau, cây mộc, cây thảo, cây mọc theo các mùa khác nhau. Sau Lê Quý Đôn, Nguyễn Trữ đã đi sâu hơn, mô tả rất kĩ cây thuốc trong cuốn “Việt Nam thực vật học”. Lê Hữu Trác tức Hải Thƣợng Lãn Ông (1720-1791) ông đã viết cuốn “Y tông tâm tĩnh” nói về đạo đức y học, vệ sinh phòng bệnh, về chẩn đoán và dƣợc học.

Sự phong phú và đa dạng về tài nguyên thực vật của nƣớc ta đã hấp dẫn rất nhiều nhà nghiên cứu phƣơng Tây, đặc biệt là các nhà khoa học ngƣời Pháp trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lƣợc. Họ đã để lại một số công trình nghiên cứu lớn nhƣ: “Thực vật Nam bộ” (1790) của Loureiro, mô tả gần 700 loài cây, “Thực vật rừng Nam bộ” (1879) của Pierre, mô tả gần 800 loài cây gỗ, hay bộ “Thực vật chí của Lào, Campuchia và Việt Nam” của các tác giả A. Công trình lớn nhất là bộ “Thực vật chí Đông Dƣơng” do H. Lecomte và một số nhà thực vật học ngƣời Pháp biên soạn (từ 1907 đến 1943) gồm 7 tập chính và sau đó lại bổ sung thêm bằng những tập phụ, trong đó đã phân loại, thống kê, mô tả các loài cây từ Dƣơng xỉ đến thực vật Hạt kín của toàn Đông Dƣơng.

Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình khác nhƣ: “Danh mục các sản phẩm của Đông Dƣơng” của Crévost, Lemaríe và Pételot. “Các cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” của Pételot, “Các cây thuốc của miền Bắc Việt Nam” của Foucaud…Và trên cơ sở các công trình đã có, năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê đƣợc miền Bắc có 5. Từ những truyền thống tốt đẹp của cha ông, sau cách mạng tháng 8 năm 1945 nhiều nghiên cứu cây thuốc, nhiều tài liệu viết về cây thuốc đƣợc các nhà khoa học viết và công bố nhƣ: Dƣợc điển Việt Nam tập 2 (1983) của Nxb Y học do nhiều thành viên và các cơ quan tham gia xây dựng, đã mô tả và nêu công dụng của hơn 430 loài cây thuốc. 5 Đỗ Tất Lợi (1999) Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam.

Là cuốn sách về dƣợc liệu nổi tiếng của nhà dƣợc học Đỗ Tất Lợi. Đây là công trình nghiên cứu trong hơn 20 năm của ông, đƣợc xuất bản lần đầu vào năm 1962, tập hợp giới thiệu hơn 750 vị thuốc Việt Nam. Cuốn sách đã đƣợc đánh giá cao ở cả trong và ngoài nƣớc, rất có ích để bảo vệ sức khỏe trong đời sống hàng ngày. Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) Cây cỏ Việt Nam xuất bản ở Canada, sau đó đƣợc nhà xuất bản Trẻ chỉnh lý, bổ sung và tái bản phát hành ở Việt Nam năm 2000, đây là bộ sách đƣợc đánh giá là đầy đủ nhất, dễ sử dụng nhất và góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu thực vật ở Việt Nam.

Trong bộ sách này, tác giả đã thống kê mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam. Trần Đình Lý và tập thể (1993) 1900 loài cây có ích ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. Giới thiệu khoảng 1900 loài cây có ích ở Việt Nam thuộc gần 1.000 chi, 230 loài họ. Khái quát về nguồn tài nguyên thực vật ở Việt Nam một cách hệ thống và có dẫn liệu về tên khoa học và các tài liệu công bố gần 1.000 chi đƣợc trình bày một cách đầy đủ về tài liệu và loài type là chƣa hề có ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ