ĐẶT VẤN ĐỀ Lâm sản ngoài gỗ là những sản phẩm từ rừng mang lại. Chúng rất phong phú, đa dạng đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học của rừng, công tác bảo tồn nguồn gen cũng nhƣ gắn liền với thu nhập kinh tế của ngƣời dân, đặc biệt là ngƣời dân bản địa. Xuất phát từ những lợi ích đó, chúng đã và đang bị con ngƣời khai thác một cách quá mức cạn kiệt nhƣng chƣa nhận thức đƣợc hành vi của mình đồng thời cũng chƣa có kiến thức về các biện pháp gây trồng hay khai thác một cách bền vững có khoa học. Đặc biệt những cây dƣợc liệu quý hiếm có giá trị cao về mặt kinh tế, cũng nhƣ y học lại càng bị khai thác một cách triệt để.
Vƣờn Quốc gia Ba Vì là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng ở Việt Nam. Có thể nói không một khu vực nào lại có sự ƣu đãi của thiên nhiên nhƣ Vƣờn Quốc gia Ba Vì. Ở đây có hệ động thực vật phong phú và đa dạng. Hiện tại, ngƣời ta đã biết có 1209 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 633 chi và 160 họ (Theo danh mục thực vật đã đƣợc thu thập mẫu và kết quả điều tra bổ sung năm 2008), trong số đó có khoảng 200 loài cây dƣợc liệu, nhiều loài quý nhƣ Bách xanh, Đỉnh tùng, Lát hoa, Trầu tiên, Lan kim tuyến, Hoàng tinh hoa trắng…về động vật, có 45 loài thú, 115 loài chim, 61 loài bò sát và 27 loài ếch nhái.
Trong đó có nhiều loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới nhƣ Gà lôi trắng, Khỉ, Báo, Sóc bay,…Loài Bát giác liên (Podophyllum tonkinense Gagnep.) thuộc họ Hoàng liên gai (Berberidaceae) đƣợc Sách Đỏ Việt Nam (phần thực vật) xếp vào mức Nguy cấp cũng có phân bố tại Vƣờn Quốc gia Ba Vì. Bát giác liên là một loài đa tác dụng có giá trị cao về nhiều mặt nhƣ: đa dạng sinh học, là nguồn gen quý hiếm (hoa mọc ở dƣới lá), làm dƣợc liệu (chữa các bệnh rắn cắn, ung nhọt, giải độc); có thể làm cây cảnh khi hình dạng lá và hoa đặc biệt. Chính vì vậy trong tự nhiên loài này đang bị ngƣời dân khai thác quá mức. Việc nghiên cứu đặc tính sinh học và sinh thái học của loài để xây dựng các giải pháp bảo tồn và phát triển loài là rất cấp thiết hiện nay.
1 Nhằm củng cố kiến thức chuyên môn, áp dụng và bổ sung các kiến thức vào thực tế cũng nhƣ góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu để bảo tồn các loài thực vật quý hiếm, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Điều tra phân bố và đề xuất các biện pháp bảo tồn loài Bát giác liên (Podophyllum tonkinense Gagnep.) tại Vƣờn Quốc gia Ba Vì - Hà Nội”. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, từ thời xa xƣa con ngƣời đã biết khai thác và sử dụng cây thuốc nam để chữa bệnh. Ngƣời đã tìm tìm thấy những tài liệu liên quan tới thực vật ở Ai Cập khoảng những năm 3000 - 5000 TCN.
Thời kì này y học Ai Cập đã biết nhận diện các loại cây chữa bệnh và loài có hại cho sức khỏe từ đó hình thành những kinh nghiệm đầu tiên về sử dụng thực vật chữa bệnh. Trong y học Ayurveda (y học cổ truyền Ấn Độ) thống kê có khoảng 2.000 loài cây cỏ có công dụng làm thuốc. Y học Trung Quốc cũng hình thành và phát triển rất sớm với thuyết âm dƣơng ngũ hành. Nhiều tác phẩm nổi tiếng nhƣ Thần nông bản thảo, Hoàng đế nội kinh.
Năm 1977 trong cuốn “Từ điển bách khoa về các phƣơng thuốc cổ truyền Trung Quốc” thống kê 5.757 mục từ, đa số là thảo mộc. Cuốn sách "Cây thuốc Trung Quốc" xuất bản năm 1985 đã liệt kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc từ trƣớc tới nay. Y học cổ Hy Lạp có Hyppocrate (460- 370 TCN) đƣợc xem là ông tổ của ngành y phƣơng tây hiện nay. Biểu tƣợng con rắn quấn quanh thân gậy phép của Esculape thời Hy lạp cổ đã trở thành biểu tƣợng y học của rất nhiều tổ chức trên thế giới hiện nay nhƣ Tổ chức Y tế thế giới, Hội y học Hoàng gia, Hội y học Hoa kì… Thầy thuốc ngƣời Hy Lạp Pedanius Dioscoride một bác sĩ, nhà dƣợc học, nhà thực vật học.
Ông là tác giả của bách khoa toàn thƣ về y học thảo dƣợc và các chất có liên quan đã thống kê có 600 loài thảo mộc. Nicholas Culpeper xuất bản cuốn dƣợc thảo “The English Physitian” (1652) và Complete Herbal (1653) trong đó chứa đựng những kiến thức về thảo dƣợc và dƣợc phẩm. Một số tác phẩm nghiên cứu thực vật nổi tiếng trên thế giới nhƣ: Thực vật chí Honking (1981), Thực vật trí Australia, Thực vật chí Tây Bắc và trung tâm Ấn Độ, Thực vật chí Malaysia. 3 Trong thời gian gần đây, thực vật là đối tƣợng đặc biệt đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm và cố gắng đánh giá đúng vị trí, vai trò chức năng sử dụng của nó trong nhiều lĩnh vực nhƣ thức ăn, thuốc chữa bệnh, trang phục, dụng cụ, các nghi lễ tôn giáo, môi trƣờng…ở từng vùng địa phƣơng khác trên thế giới.
Trong đó, cây thuốc đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu nhiều nhất. Nhìn chung xã hội phát triển nên kéo theo nhu cầu của con ngƣời ngày càng cao. Các giá trị thực tiễn của thực vật đƣợc các nhà khoa học quan tâm và đánh giá đúng về các sản phẩm vừa chữa trị tận gốc các căn bệnh mà không để lại tác dụng phụ. Các sản phẩm thảo dƣợc, thực phẩm chức năng ra đời đáp ứng đƣợc vừa có thể chữa bệnh nhƣng lại đảm bảo không gây hại cho cơ thể khi sử dụng lâu dài nên do đó cây dƣợc liệu ngày càng đƣợc khai thác mạnh.
Đặc biệt khi những cây dƣợc liệu quý mang lại lợi nhuận kinh tế cao lại càng bị khai thác quá mức, đe dọa sinh tồn một số loài. Các nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam Việt Nam là quốc gia đƣợc đánh giá cao về sự phong phú, ý nghĩa thực tiễn của nguồn tài nguyên cây thuốc. Nên việc sử dụng thực vật làm dƣợc liệu rất sớm đƣợc đúc kết kinh nghiệm và lƣu truyền trong cộng đồng các dân tộc. Từ thời xa xƣa dân tộc ta đã gây dựng đƣợc một nền y học cổ truyền để phòng và chữa một số loại bệnh nhƣ uống nƣớc vối để giúp tiêu hóa tốt, phòng bệnh, nhai trầu để bảo về răng… Trong thời kỳ độc lập (937-1399), vào thời nhà Lý, ở xã Đại Yên (Hà Nội), đời nhà Trần, Thái Y Viện đã tổ chức đi sƣu tầm thuốc ở núi Yên Tử (Đông Triều - Quảng Ninh), Phạm Ngũ Lão xây dựng vƣờn thuốc Vạn Yên và gây rừng thuốc dƣợc sản ở Phả Lại (huyện Chí Linh) để phục vụ quân đội đánh giặc ngoại xâm.
Từ thế kỉ XIV- XVIII xuất hiện những danh y nhƣ Tuệ Tĩnh với “Hồng nghĩa giác tƣ y thƣ” những phƣơng thuốc trong và ngoài nƣớc. Thời Lý Thái Tổ (1429), Phan Phù Tiên xuất bản cuốn “Bản thảo thực vật toàn yếu”; thế kỷ XVI, Lê Quý Đôn trong bộ “Vân đài loại ngữ” (1417) đã sơ bộ phân loại thực 4 vật thành nhiều loại: cây cho hoa, cho quả, cây ngũ cốc, cây rau, cây mộc, cây thảo, cây mọc theo các mùa khác nhau. Sau Lê Quý Đôn, Nguyễn Trữ đã đi sâu hơn, mô tả rất kĩ cây thuốc trong cuốn “Việt Nam thực vật học”. Lê Hữu Trác tức Hải Thƣợng Lãn Ông (1720-1791) ông đã viết cuốn “Y tông tâm tĩnh” nói về đạo đức y học, vệ sinh phòng bệnh, về chẩn đoán và dƣợc học.
Sự phong phú và đa dạng về tài nguyên thực vật của nƣớc ta đã hấp dẫn rất nhiều nhà nghiên cứu phƣơng Tây, đặc biệt là các nhà khoa học ngƣời Pháp trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lƣợc. Họ đã để lại một số công trình nghiên cứu lớn nhƣ: “Thực vật Nam bộ” (1790) của Loureiro, mô tả gần 700 loài cây, “Thực vật rừng Nam bộ” (1879) của Pierre, mô tả gần 800 loài cây gỗ, hay bộ “Thực vật chí của Lào, Campuchia và Việt Nam” của các tác giả A. Công trình lớn nhất là bộ “Thực vật chí Đông Dƣơng” do H. Lecomte và một số nhà thực vật học ngƣời Pháp biên soạn (từ 1907 đến 1943) gồm 7 tập chính và sau đó lại bổ sung thêm bằng những tập phụ, trong đó đã phân loại, thống kê, mô tả các loài cây từ Dƣơng xỉ đến thực vật Hạt kín của toàn Đông Dƣơng.
Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình khác nhƣ: “Danh mục các sản phẩm của Đông Dƣơng” của Crévost, Lemaríe và Pételot. “Các cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” của Pételot, “Các cây thuốc của miền Bắc Việt Nam” của Foucaud…Và trên cơ sở các công trình đã có, năm 1965 Pócs Tamás đã thống kê đƣợc miền Bắc có 5. Từ những truyền thống tốt đẹp của cha ông, sau cách mạng tháng 8 năm 1945 nhiều nghiên cứu cây thuốc, nhiều tài liệu viết về cây thuốc đƣợc các nhà khoa học viết và công bố nhƣ: Dƣợc điển Việt Nam tập 2 (1983) của Nxb Y học do nhiều thành viên và các cơ quan tham gia xây dựng, đã mô tả và nêu công dụng của hơn 430 loài cây thuốc. 5 Đỗ Tất Lợi (1999) Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam.
Là cuốn sách về dƣợc liệu nổi tiếng của nhà dƣợc học Đỗ Tất Lợi. Đây là công trình nghiên cứu trong hơn 20 năm của ông, đƣợc xuất bản lần đầu vào năm 1962, tập hợp giới thiệu hơn 750 vị thuốc Việt Nam. Cuốn sách đã đƣợc đánh giá cao ở cả trong và ngoài nƣớc, rất có ích để bảo vệ sức khỏe trong đời sống hàng ngày. Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) Cây cỏ Việt Nam xuất bản ở Canada, sau đó đƣợc nhà xuất bản Trẻ chỉnh lý, bổ sung và tái bản phát hành ở Việt Nam năm 2000, đây là bộ sách đƣợc đánh giá là đầy đủ nhất, dễ sử dụng nhất và góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu thực vật ở Việt Nam.
Trong bộ sách này, tác giả đã thống kê mô tả và kèm theo hình vẽ của hơn 11.600 loài thực vật Việt Nam. Trần Đình Lý và tập thể (1993) 1900 loài cây có ích ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. Giới thiệu khoảng 1900 loài cây có ích ở Việt Nam thuộc gần 1.000 chi, 230 loài họ. Khái quát về nguồn tài nguyên thực vật ở Việt Nam một cách hệ thống và có dẫn liệu về tên khoa học và các tài liệu công bố gần 1.000 chi đƣợc trình bày một cách đầy đủ về tài liệu và loài type là chƣa hề có ở Việt Nam.