Mở đầu: trình bày lý do nghiên cứu, lịch sử nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mẫu khảo sát, vấn đề khoa học, giả thuyết, phương pháp nghiên cứu, luận cứ khoa học, kết cấu luận văn. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định điều kiện chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức R&D. Chương II. Xác định điều kiện chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm của một số tổ chức R&D tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Kết luận và khuyến nghị Tài liệu tham khảo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH ĐIỀU KIỆN CHUYỂN ĐỔI SANG CƠ CHẾ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI 1. Những khái niệm cơ bản (2) (11) (12) (13) (14) (55) (56) (68) 1. Khái niệm về cơ chế, chính sách, chính sách KH&CN a. Khái niệm cơ chế Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học biên soạn và xuất bản năm 2000 thì “cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện”.
Như vậy, khi nói đến trách nhiệm quản lý của bộ, ngành và của người đứng đầu bộ, ngành là nói đến cách thức mà theo đó việc quản lý, điều hành của bộ, ngành đó, của người đứng đầu thực hiện việc quản lý, điều hành, là mối quan hệ, điều phối, phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan, giữa bộ, ngành đó với Chính phủ và các cơ quan công quyền cũng như với người dân. Khái niệm cơ chế quản lý Có rất nhiều các tiếp cận khái niệm cơ chế quản lý. Cơ chế quản lý là cách thức tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. Theo TS Lê Đăng Doanh, cơ chế quản lý và các quan hệ của Nhà nước về hoạt động KH&CN được hiểu là cách thức Nhà nước tổ chức và tác động đến hoạt động KH&CN nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước.
Khái niệm chính sách Từ “chính sách” được sử dụng hết sức phổ biến, từ những nội dung vĩ mô như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa đến tầm vi mô trong chính sách của các công ty. Mỗi khi có vấn đề gì nổi cộm trong xã hội, công chúng trông chờ vào những phản ứng của chính quyền. Những phản ứng đó khi định hình và thể hiện một cách chính thức được gọi dưới cái tên “chính sách”. Chính sách cũng có thể hàm chứa những tính toán, định hướng dài hơi của Chính phủ, mối quan tâm đến một số nhóm đối tượng đặc biệt nào đó hay đơn thuần chỉ là sự áp đặt mang “tính gia trưởng” của Nhà nước.
Trong các mối quan hệ của các doanh nghiệp, chính sách là các khuôn mẫu, phương thức gắn kết với mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp, như đối tượng khách hàng ưu tiên, thanh toán, quản trị nội bộ… Có rất nhiều nhà nghiên cứu về chính sách đưa ra các định nghĩa khác nhau về chính sách, chúng ta có thể liệt kê ra một số định nghĩa sau: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm (Thomas R. Dye- 1984) Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson 2003). Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin 1978). Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan Nhà nước hay các quan chức Nhà nước đề ra (William N.
Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành (Peter Aucoin 1971). Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B. Kraft và Furlong (2004) đưa ra một định nghĩa tổng hợp hơn. Theo đó, chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng.
Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình. Trong phạm vi đề tài của luận văn tác giả sử dụng khái niệm chính sách theo định nghĩa của PGS. Theo PGS, Chính sách là tập hợp biện pháp được thể chế hoá của một chủ thể quản lý, tác động vào đối tượng quản lý, nhằm thúc đẩy đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý vạch ra. Khái niệm chính sách KH&CN Trong từ điển Bách khoa Việt Nam do Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 1995 định nghĩa rằng “chính sách KH&CN là chính sách, đường lối nghiên cứu KH&CN, kế thừa có chọn lọc các thành tựu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com KH&CN của thế giới để một mặt đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, mặt khác chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ và biện pháp tăng cường tiềm lực KH&CN của quốc gia nhằm chuẩn hợp với yêu cầu phát triển của thời đại.
Nội dung của chính sách KH&CN phải căn cứ vào: đặc điểm, hiện trạng và tiềm lực KH&CN quốc gia, xác định phương hướng và nhiệm vụ phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ trong suốt thời kỳ quy định của chính sách trong các ngành cơ bản của nền kinh tế quốc dân, các vấn đề nghiên cứu khoa học kinh tế và công nghệ ưu tiên”. Theo tác giả, chính sách KH&CN là một bộ phận của chính sách, chính sách này nhằm mục đích khuyến khích, thúc đẩy và tạo điều kiện cho sự phát triển khoa học và công nghệ của mỗi quốc gia. Khái niệm về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm Trong từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ xuất bản năm 1992 có định nghĩa “tự chủ là tự điều hành, quản lý mọi công việc của mình”. Tự chủ có tác dụng nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị R&D thuộc Nhà nước.
Tuy nhiên, Nhà nước phải thể hiện vai trò chức năng quản lý vĩ mô của mình. Tự chủ hướng tới không thể bỏ qua bản chất vẫn là tổ chức thuộc Nhà nước. Trong từ điển Việt do Viện Ngôn ngữ xuất bản năm 1992 có định nghĩa “Trách nhiệm là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”. Tự chịu trách nhiệm là tự thân chủ thể hành động phải chịu trách nhiệm đối với lời nói, hành vi của mình.
Khái niệm về tổ chức R&D Tổ chức là hệ thống hoạt động của hai hay nhiều người vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung [60]. Do đó, tổ chức R&D là tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu và triển khai vì những quyền lợi chung và nhằm một mục đích chung của tổ chức. Khi phân loại nghiên cứu khoa học theo chức năng chúng ta có nghiên cứu và triển khai. Nghiên cứu và triển khai bao gồm: nghiên cứu cơ bản (khám phá quy luật và tạo ra các lý thuyết, nghiên cứu ứng dụng (vận dụng lý thuyết để mô tả, giải thích, dự báo và đề xuất các giải pháp và triển khai (chế tác vật mẫu - làm Prototype; tạo công nghệ để sản xuất với Prototype - làm Pilot; sản xuất lọt nhỏ - Serie 0 để khẳng định độ tin cậy).
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiªn cøu c¬ b¶n thuÇn tuý Nghiªn cøu tæng hîp 1. Nghiªn cøu c¬ b¶n Nghiªn cøu c¬ b¶n ®Þnh h-íng 2. Nghiªn cøu øng dông Nghiªn cøu chuyªn ®Ò T¹o vËt mÉu (Prototype) 3. Nghiªn cøu triÓn khai T¹o quy tr×nh s/x vËt mÉu S¶n xuÊt thö Sªrie Nº 0 1.
Khái niệm về điều kiện Trong từ điển Bách khoa Việt Nam do Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 1995 định nghĩa rằng “điều kiện là khái niệm chỉ ra những gì mà nếu không có thì đối tượng không thể tồn tại được”. Bản thân đối tượng thể hiện ra như một cái gì có điều kiện, còn điều kiện lại thể hiện ra như một bộ phận của thế giới với tính nhiều màu vẻ của nó. Khác với nguyên nhân là cái trực tiếp sản sinh ra một hiện tượng, một sự vật, một quá trình nhất định, điều kiện là những gì cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của đối tượng. Con người, trong quá trình đấu tranh cải tạo tự nhiên, đã tìm tòi, sáng tạo ra những điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của mình và phấn đầu hạn chế, xoá bỏ những điều kiện bất lợi.
Khi đối tượng biến đổi thì các điều kiện cũng chịu sự tác động của đối tượng mới, do đó, điều kiện cũng có sự biến đổi theo, và chính những điều kiện cũng lại tác động lẫn nhau trong quá trình vận động và biến đổi đối tượng. Tóm lại, điều kiện là cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra. Điều kiện cần là điều kiện mà nó không được thực hiện thì điều khẳng định đã cho chắc chắn là không đúng. Điều kiện đủ là điều kiện mà từ đó có thể suy ra điều khẳng định đã cho.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số vấn đề cơ bản về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức R&D. Các mốc chính sách quan trọng đối với sự phát triển của KH&CN và đổi mới cơ chế quản lý các tổ chức KH&CN 1. Chủ trương áp dụng chế độ ký kết hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật (Quyết định 175-CP ngày 29/4/1981).
Cho phép cán bộ KH&CN được làm kiêm nhiệm thêm công tác tại cơ quan khác (Quyết định 161-CT ngày 13/6/1983). Quy định các cơ quan nghiên cứu - triển khai (NC-TK) được tổ chức sản xuất các sản phẩm là kết quả nghiên cứu của mình mà chưa có cơ sở sản xuất nào đảm nhiệm (Quyết định 51-HĐBT ngày 17/5/1983). Chủ trương cho phép các cơ sở nghiên cứu chủ động thiết lập và mở rộng mọi hình thức liên doanh, liên kết để ứng dụng các thành tựu KH&KT vào sản xuất và đời sống (Quyết định số 134-HĐBT ngày 31/8/1987).