Tổng quan nghiên cứu

Việc ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP được xem là bước đột phá mang tính lịch sử, tương tự chính sách khoán 10 trong nông nghiệp, nhằm trao quyền tự chủ toàn diện về tổ chức, nhân sự và tài chính cho hệ thống 659 tổ chức khoa học và công nghệ công lập trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, qua hơn 2 năm triển khai thực tế, toàn ngành chỉ có 161 đơn vị được phê duyệt đề án và 142 đơn vị hoàn thành xây dựng đề án, phản ánh những rào cản phức tạp trong việc thích ứng với cơ chế thị trường. Vấn đề cốt lõi đặt ra là các cơ sở nghiên cứu và triển khai (R&D) cần đáp ứng những điều kiện tiên quyết nào để chuyển đổi thành công từ cơ chế bao cấp sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm mà vẫn bảo đảm nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ hệ thống cơ sở lý luận về tự chủ R&D, nhận diện và xác lập khung điều kiện cần và đủ cho quá trình chuyển đổi, đồng thời khảo sát thực trạng hoạt động tại các đơn vị thành viên của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào chuỗi dữ liệu hoạt động trong giai đoạn 2005–2008, lấy mẫu khảo sát chuyên sâu tại 3 viện nghiên cứu chuyên ngành đầu ngành gồm Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hóa học và Viện Khoa học Năng lượng. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giải phóng sức sáng tạo cho đội ngũ hơn 3.000 cán bộ công chức, viên chức, bao gồm trên 600 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học cùng hơn 200 giáo sư, phó giáo sư, góp phần hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách nhà nước và gia tăng tỷ trọng thương mại hóa công nghệ tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng kết hợp Thuyết hệ thống (System Theory) và Thuyết chức năng (Functionalism) trong khoa học chính sách công để phân tích cấu trúc tổ chức và động thái vận hành của các đơn vị nghiên cứu khoa học. Dưới góc độ quản lý kinh tế, nghiên cứu dựa trên lý thuyết phân định quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản nhà nước, trong đó Nhà nước giữ quyền định đoạt sở hữu tối cao nhưng phân cấp quyền chủ động khai thác tài sản, nguồn lực tài chính và nhân sự cho các đơn vị sự nghiệp.

Mô hình nghiên cứu phân tách các yếu tố tác động thành hai nhóm điều kiện cơ bản:

  • Điều kiện bên trong tổ chức: Năng lực khoa học công nghệ, cơ cấu nhân lực trình độ cao, tiềm lực cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực quản trị tài chính nội bộ và khả năng tạo nguồn thu dịch vụ.
  • Điều kiện bên ngoài tổ chức: Hành lang pháp lý đồng bộ, cơ chế giao khoán nhiệm vụ khoa học, hệ thống chính sách thuế, đất đai và mức độ phát triển của thị trường công nghệ.

Nghiên cứu tập trung làm rõ 4 khái niệm then chốt:

  1. Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ: Cách thức Nhà nước tổ chức, điều phối và tác động đến các hoạt động nghiên cứu nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
  2. Tổ chức R&D: Tập hợp nhân lực và phương tiện kỹ thuật hoạt động có hệ thống trong các khâu nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm sản xuất thử nghiệm.
  3. Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Thẩm quyền tự quyết định của tổ chức về bộ máy biên chế, tài chính và phương hướng hoạt động gắn liền với trách nhiệm pháp lý và kết quả đầu ra.
  4. Điều kiện chuyển đổi: Toàn bộ các tiền đề vật chất, thể chế và nguồn lực bắt buộc phải có để một tổ chức tồn tại và vận hành hiệu quả trong môi trường cạnh tranh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp từ 35 báo cáo phân tích chính sách, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan và các đề án chuyển đổi thực tế giai đoạn 2005–2008. Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua phương pháp chuyên gia với 15 cuộc phỏng vấn sâu các nhà quản lý, nhà khoa học đầu ngành tại cơ quan chủ quản và các viện nghiên cứu thành viên.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 3 viện nghiên cứu chuyên ngành đại diện tiêu biểu cho 3 khối nghiên cứu mũi nhọn thuộc tổng số 34 đơn vị trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Phương pháp chọn mẫu định đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm bao quát các đặc trưng khác biệt: Viện Khoa học Vật liệu đại diện cho lĩnh vực công nghệ cao và vật liệu mới; Viện Hóa học đại diện cho lĩnh vực công nghệ hóa dược, hóa môi trường giàu tiềm năng ứng dụng; Viện Khoa học Năng lượng đại diện cho khối nghiên cứu chính sách và phát triển bền vững.

Phương pháp phân tích tài liệu kết hợp phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu và phương pháp so sánh đối chiếu được áp dụng để đánh giá định lượng các chỉ tiêu tài chính, nhân lực, đồng thời lượng hóa tính khả thi của tiến trình chuyển đổi. Timeline nghiên cứu được thực hiện liên tục trong thời gian 3 năm từ năm 2005 đến năm 2008, bám sát các mốc thời gian ban hành chính sách và thực tiễn triển khai tại cơ sở.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại sự phân hóa rất lớn về nguồn thu và mức độ sẵn sàng tự chủ tài chính giữa các khối nghiên cứu. Khảo sát toàn quốc cho thấy có 123 tổ chức thuộc diện nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu chính sách bắt buộc phải tiếp tục duy trì cấp ngân sách thường xuyên do không có nguồn thu thị trường. Tại các đơn vị nghiên cứu ứng dụng, nguồn thu từ hợp đồng dịch vụ công nghệ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn; đơn cử như 5 liên hiệp khoa học sản xuất trực thuộc Viện Khoa học Vật liệu đã tự chủ tài chính theo Nghị định 35-HĐBT từ năm 1992 và tạo nền tảng chuyển đổi thuận lợi sang mô hình doanh nghiệp.

Thứ hai, cơ cấu nhân lực tại các viện đầu ngành có trình độ học thuật vượt trội nhưng mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu chuyên môn phục vụ sản xuất. Tại Viện Khoa học Vật liệu, tổng số trên 300 cán bộ sở hữu 25 Giáo sư, Phó Giáo sư và 75 Tiến sĩ, Nghiên cứu viên chính; tuy nhiên chỉ 17% cán bộ được đào tạo đúng chuyên ngành công nghệ vật liệu, trong khi hơn 50% thuộc về khoa học cơ bản và tỷ lệ thông thạo ngoại ngữ chỉ đạt khoảng 40%. Tương tự, Viện Hóa học có 131 cán bộ biên chế và 128 cán bộ hợp đồng dài hạn với 59 Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học, nhưng lực lượng kỹ sư triển khai sản xuất thử nghiệm chỉ chiếm dưới 10% tổng nhân sự.

Thứ ba, cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư mạnh nhưng hiệu suất thương mại hóa chưa tương xứng. Viện Khoa học Vật liệu sở hữu khuôn viên rộng 8.072 m2 cùng Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về Vật liệu và Linh kiện điện tử với trang thiết bị trị giá hàng triệu USD. Dù vậy, quy định trích khấu hao tài sản cố định tối đa 2 lần và nghĩa vụ trích nộp tối thiểu 30% chênh lệch thu chi vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp vẫn tạo ra những điểm nghẽn lớn cho việc tái đầu tư linh hoạt theo tín hiệu thị trường.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của việc chậm trễ chuyển đổi bắt nguồn từ cả rào cản bên ngoài lẫn sức ì nội tại. Về mặt thể chế, hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định 115 thiếu đồng bộ, có sự chồng chéo với Nghị định 43 và Nghị định 132 về tinh giản biên chế. Các vướng mắc về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thủ tục định giá quyền sử dụng đất để góp vốn liên doanh khiến nhiều đơn vị lúng túng. Về mặt tâm lý, thói quen bao cấp tồn tại nhiều thập kỷ khiến hơn 3.000 cán bộ nghiên cứu e ngại mất biên chế nhà nước, tương tự như giai đoạn đầu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

So sánh với bài học quốc tế, mô hình Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) tự chủ hoàn toàn dựa trên hợp đồng nghiên cứu độc lập, hay mô hình CRADA tại Mỹ liên kết hơn 700 phòng thí nghiệm liên bang với kinh phí 21 tỷ USD, cho thấy quyền tự chủ chỉ phát huy khi đi kèm quyền định đoạt tài sản và liên kết doanh nghiệp mạnh mẽ. Tại Việt Nam, việc thiếu một thị trường công nghệ hoàn chỉnh khiến các viện nghiên cứu khó tìm kiếm đối tác tiếp nhận kết quả nghiên cứu quy mô lớn.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua bảng cơ cấu phân bố nhân lực theo độ tuổi, trình độ học vị và biểu đồ tỷ trọng nguồn thu sự nghiệp so với ngân sách nhà nước. Những số liệu này chứng minh rõ nét rằng nếu không phân loại rạch ròi giữa nghiên cứu cơ bản công ích và nghiên cứu ứng dụng thương mại, việc áp dụng cào bằng cơ chế tự chủ tài chính sẽ làm suy giảm nghiêm trọng tiềm lực nghiên cứu quốc gia.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế chính sách đồng bộ. Bộ Khoa học và Công nghệ cần chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành 100% văn bản hướng dẫn chi tiết về cơ chế giao quyền sử dụng tài sản, định giá tài sản trí tuệ và miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho tổ chức khoa học chuyển đổi trong giai đoạn 2009–2011.

Thứ hai, thực hiện tái cơ cấu tổ chức và quy hoạch lại mạng lưới viện nghiên cứu. Lãnh đạo Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cần phân loại dứt khoát 34 đơn vị trực thuộc thành 2 nhóm: nhóm nghiên cứu cơ bản được Nhà nước cấp ngân sách thường xuyên theo phương thức khoán sản phẩm cuối cùng; nhóm nghiên cứu ứng dụng chuyển đổi hoàn toàn sang tổ chức tự trang trải hoặc doanh nghiệp công nghệ trước ngày 31 tháng 12 năm 2011.

Thứ ba, nâng cao năng lực quản trị nội bộ và cơ cấu lại nguồn nhân lực. Các viện chuyên ngành cần chủ động điều chỉnh cơ cấu tuyển dụng, phấn đấu nâng tỷ lệ cán bộ có chuyên môn kỹ thuật công nghệ từ mức 17% lên 35% vào năm 2012; đồng thời thực hiện trích lập tối thiểu 30% thặng dư tài chính vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp và thành lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập nhằm bảo đảm đời sống cán bộ viên chức.

Thứ tư, đẩy mạnh thương mại hóa và phát triển mô hình doanh nghiệp khoa học công nghệ (spin-off). Ban Ứng dụng và Triển khai công nghệ cần xây dựng ít nhất 3 vườn ươm công nghệ tại các phân viện, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng doanh thu từ hợp đồng dịch vụ công nghệ ngoài ngân sách đạt tối thiểu 40% tổng doanh thu của toàn Viện trước năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ: Sử dụng khung điều kiện chuyển đổi và các phân tích thể chế trong luận văn làm căn cứ sửa đổi, bổ sung cơ chế giao quyền tự chủ cho 659 tổ chức R&D công lập trên toàn quốc.
  2. Ban lãnh đạo các viện nghiên cứu và trung tâm khoa học thuộc Viện Hàn lâm, các Bộ, ngành: Tham khảo mô hình phân loại tổ chức, quy trình xây dựng đề án chuyển đổi và bài học kinh nghiệm từ Viện Khoa học Vật liệu và Viện Hóa học để tái cơ cấu tổ chức bộ máy hơn 3.000 cán bộ hiệu quả.
  3. Lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN tại 63 tỉnh, thành phố: Ứng dụng các giải pháp tháo gỡ khó khăn về thiếu hụt thiết bị thí nghiệm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chuyển giao kỹ thuật và từng bước xây dựng mô hình tự trang trải chi phí.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý KH&CN, Chính sách công, Quản lý công: Sử dụng luận văn như tài liệu học thuật giá trị cao với hệ thống dữ liệu thực chứng chuyên sâu về 3 viện chuyên ngành hàng đầu Việt Nam giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

Nghị định 115/2005/NĐ-CP mang lại điểm đột phá căn bản nào cho các tổ chức khoa học công nghệ? Nghị định trao quyền tự chủ toàn diện về nhân sự, tổ chức bộ máy và tài chính, xóa bỏ cơ chế bao cấp kinh phí thường xuyên. Thủ trưởng đơn vị được toàn quyền tuyển dụng viên chức theo hợp đồng làm việc, quyết định cơ cấu tổ chức và trích lập tối thiểu 30% chênh lệch thu chi vào Quỹ phát triển sự nghiệp để tái đầu tư.

Những tổ chức nghiên cứu nào tiếp tục được Nhà nước cấp ngân sách hoạt động thường xuyên? Các tổ chức khoa học thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản thuần túy, nghiên cứu chiến lược và chính sách phục vụ quản lý nhà nước được ngân sách bảo đảm kinh phí theo phương thức khoán. Khảo sát giai đoạn 2005–2008 đã xác định 123 tổ chức trên toàn quốc thuộc nhóm đối tượng duy trì ngân sách thường xuyên này.

Thực trạng cơ sở vật chất của Viện Khoa học Vật liệu đáp ứng thế nào cho lộ trình tự chủ? Viện sở hữu diện tích 8.072 m2 cùng Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về Vật liệu và Linh kiện điện tử đi vào hoạt động từ tháng 6 năm 2008. Hệ thống thiết bị phân tích hiện đại nhập khẩu từ Mỹ, Đức, Pháp cho phép Viện chủ trì nhiều đề tài công nghệ cao và cung cấp dịch vụ phân tích vật liệu uy tín.

Tại sao có 20 Bộ, ngành và địa phương đề nghị lùi thời hạn hoàn thành đề án tự chủ đến năm 2011? Nguyên nhân chủ yếu do việc chuyển đổi cần thời gian đồng bộ với Nghị định 132 về tinh giản biên chế kéo dài đến năm 2011. Thêm vào đó, thị trường công nghệ địa phương còn manh mún, các văn bản hướng dẫn định giá tài sản và ưu đãi thuế của các bộ liên ngành ban hành còn chậm.

Các tổ chức R&D Việt Nam có thể học hỏi điều gì từ kinh nghiệm tự chủ của Viện KIST Hàn Quốc? Viện KIST thành công nhờ vận hành theo cơ chế viện nghiên cứu theo hợp đồng, trong đó từng phòng nghiên cứu tự chủ tài chính và tự chịu trách nhiệm về toàn bộ chi phí hoạt động. Đây là bài học quan trọng để các viện R&D Việt Nam gắn chặt hoạt động nghiên cứu với đơn đặt hàng từ khối doanh nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức R&D, khẳng định việc chuyển đổi là xu thế tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ quốc gia.
  • Nghiên cứu xác lập khung điều kiện chuyển đổi gồm 2 nhóm yếu tố bên trong (nhân lực, tài chính, hạ tầng) và bên ngoài (thể chế, thị trường công nghệ), cung cấp công cụ đánh giá khoa học cho các cơ quan quản lý.
  • Phân tích thực chứng tại 3 viện chuyên ngành đã chỉ rõ sự phân hóa sâu sắc giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, đồng thời phản ánh khách quan rào cản về cơ cấu nhân lực tại cơ sở nghiên cứu lớn với hơn 3.000 cán bộ.
  • Đóng góp cốt lõi của đề tài là hệ thống giải pháp 4 nhóm bám sát lộ trình kéo dài thời gian chuẩn bị chuyển đổi đến hết năm 2011 theo kiến nghị của 20 Bộ, ngành gửi Chính phủ.
  • Về hướng phát triển tiếp theo, các nhà nghiên cứu và quản lý chính sách cần tiếp tục mở rộng mô hình định giá tài sản trí tuệ và cơ chế hình thành doanh nghiệp công nghệ spin-off, thúc đẩy khoa học Việt Nam hội nhập vững chắc vào nền kinh tế tri thức toàn cầu.