phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, kết cấu luận văn gồm các phần chính: Chƣơng 1: Bối cảnh điều chỉnh chính sách đối ngoại của tổng thống George W. Chương này sẽ đề cập tới bối cảnh quốc tế (những vấn đề về kinh tế, chính trị thế giới, quan hệ quốc tế) và trong nước của Hoa Kỳ (những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, quân sự, khoa học công nghệ) làm cơ sở nền tảng cho sự ra đời chính sách đối ngoại của Bush. Đồng thời chương này cũng sẽ giới thiệu về chính sách đối ngoại của Bush để tạo cơ sở tìm hiểu về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của G. Bush so với B.
Clinton 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 2: Điều chỉnh chính sách đối ngoại của tổng thống George W. Nội dung phần này tập trung vào những điều chỉnh của G. Bush so với B. Clinton trên cơ sở các vấn đề: về các mục tiêu, ưu tiên (thứ tự các ưu tiên, vấn đề dân chủ và cuộc chiến chống khủng bố, thúc đẩy dân chủ) cũng như phương thức thực hiện chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ (tập hợp lực lượng, thay đổi chiến lược kiềm chế sang tấn công phủ đầu, chủ nghĩa đơn phương và phương châm rảnh tay hành động, và điều chỉnh chiến lược quân sự).
Chương này còn có nhiệm vụ giải thích tại sao lại có sự điều chỉnh như vậy trên cơ sở tập trung vào nhận thức khác biệt của G. Bush so với B. Chƣơng 3: Tác động của việc G. Bush điều chỉnh và vài nhận xét về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ: Chương này tập trung vào những tác động của việc G.
Bush điều chỉnh chính sách đối ngoại trên ba cấp độ: tới kinh tế, chính trị và an ninh quốc tế, khu vực và Việt Nam. Đồng thời một số dự báo chiều hướng chính sách đối ngoại Hoa Kỳ trong tương lai gần và xa cũng được đề cập tới trong chương này. Do đề tài nghiên cứu mang tính thời sự cao, nguồn tài liệu tuy phong phú nhưng nhiều chiều cần được bổ sung và cập nhật thêm, với thời gian có hạn cùgn sự hiểu biết và kinh nghiệm của người viết còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi có những thiếu sót. Rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý của quý độc giả.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. BỐI CẢNH ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA TỔNG THỐNG GEORGE W. Bối cảnh của việc G. Bush điều chỉnh CSĐN 1.
Bối cảnh quốc tế Bối cảnh thay đổi của nền kinh tế chính trị thế giới đã khiến cho Hoa Kỳ có những lựa chọn chiến lược chưa từng có kể từ sau năm 1945. Sức mạnh của Hoa Kỳ chỉ được bộc lộ rõ ràng từ năm 1991 khi Hoa Kỳ tấn công Iraq mà không vấp phải sự phản ứng nào của Nga. Sức mạnh ấy một lần nữa lại được thể hiện sau vài năm khi Hoa Kỳ cầm đầu NATO can thiệp vào Kosovo năm 1999. Bối cảnh quốc tế được biểu hiện thông qua những biến đổi của tình hình kinh tế, chính trị, an ninh thế giới, những xu hướng của quan hệ quốc tế, quan hệ giữa các nước lớn.
Tình hình kinh tế, chính trị thế giới Kinh tế thế giới Kinh tế thế giới hiện nay có hai đặc điểm chính. Đặc điểm thứ nhất là sự chuyển hóa nền kinh tế thế giới sang nền kinh tế tri thức. Đặc điểm này đã đưa đến những hệ quả sau đây: (i) tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất thay đổi về chất kéo theo sự thay đổi về phương thức sản xuất, cung cách quản lý, làm ăn, cách sống; (ii) thúc đẩy nền kinh tế phát triển vượt bậc ngay cả khi nền kinh tế có sự xáo trộn khó lường; (iii) không làm triệt tiêu quy luật phát triển không đồng đều, mà ngược lại, còn làm tăng thêm rõ hơn, càng phức tạp hơn, đồng thời làm tăng khoảng cách giữa nước phát triển và đang phát triển; (iv) tạo cơ hội cho các nước khắc phục sự nghèo nàn, lạc hậu, rút ngắn khoảng cách phát triển, nhưng đồng thời cũng tạo ra những thách thức lớn do sự thiếu vốn, tình trạng nghèo nàn lạc hậu của khoa học kĩ thuật và còn do các vấn đề xã hội; (v) làm cuộc chạy đua kinh tế, khoa học công nghệ giữa các nước diễn ra quyết liệt hơn, biến nó thành cuộc chạy đua nổi trội, điều đó buộc tất cả các nước đều phải điều chỉnh chiến lược phát triển mà trọng tâm là sự cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển khoa học, công nghệ và giáo dục Đặc điểm thứ hai, quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá có sự biến đổi về chất, tăng cả về tốc độ, quy mô, về cả chiều rộng lẫn chiều sâu, đa dạng, nhiều tầng 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiều lớp. Toàn cầu hoá và khu vực hoá là hai quá trình có quan hệ tương hỗ biện chứng, vừa xung đột, vừa bổ trợ thúc đẩy lẫn nhau, phản ánh tính đa dạng trong sự phát triển của thế giới.
Điều này dẫn tới các hệ quả: (i) thúc đẩy nền kinh tế thế giới chuyển sang mô hình kinh tế tri thức; (ii) thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá diễn ra trên nhiều lĩnh vực - chính trị, văn hoá, khoa học, giáo dục; (iii) làm tăng thêm sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, giữa các dân tộc, nhưng không làm triệt tiêu mâu thuẫn và sự đấu tranh giữa các quốc gia; (iv) tạo ra sự thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc, gây nguy cơ làm xói mòn chủ quyền quốc gia; (v) tác động mạnh tới nền chính trị quốc tế, trước hết là tác động tới khái niệm quốc gia (chủ quyền, sức mạnh, lợi ích…); (vi) tạo ra khả năng kiềm chế xung đột và làm giảm nguy cơ chiến tranh thế giới huỷ diệt. Kinh tế là cơ sở hạ tầng, là nền tảng cho quan hệ chính trị, kinh tế thay đổi kéo theo sự thay đổi của thượng tầng. Kinh tế thế giới tiếp tục bị ảnh hưởng sâu sắc bởi sự biến động của địa chính trị – thế giới. Tuy nhiên, các quốc gia đều muốn có môi trường hoà bình, ổn định để phát triển.
Sự phát triển kinh tế là tiêu chí phấn đấu của mọi quốc gia. Cạnh tranh kinh tế sẽ diễn ra quyết liệt trong cơn lốc toàn cầu hoá mà lực lượng chi phối vẫn là ba trung tâm tư bản chủ nghĩa và các nước lớn. Trong thập niên tới, cuộc cạnh tranh giành giật tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt là năng lượng) và tài nguyên chất xám sẽ diễn ra gay gắt hơn. Các nhà chiến lược Mỹ đã đi trước các cường quốc khác trong chiến lược giành giật tài nguyên thiên nhiên và trí tuệ con người.
Ngày nay, các nước lớn giàu có, nắm giữ và chi phối nhiều tổ chức kinh tế, tài chính thế giới và khu vực, đặc biệt là WB, IMF, WTO. Thực tế một số nước lớn đang nắm giữ sự vận hành của nền kinh tế thế giới và chi phối việc hoạch định CSĐN của nhiều nước. Tình hình chính trị và an ninh thế giới Tình hình chính trị và an ninh quốc tế có những nét lớn chủ yếu sau đây. Thứ nhất, sự so sánh lực lượng tiếp tục đang ở thế có lợi cho Hoa Kỳ, nhưng các đối tác của Mỹ (Nhật, EU, Nga, Trung Quốc…) vẫn tiếp tục gia tăng sự cạnh tranh vươn lên để khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế.
Mỹ đang bị EU, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhật Bản cạnh tranh quyết liệt về kinh tế (các cuộc chiến tranh kinh tế giữa ba trung tâm kinh tế TBCN diễn ra liên tục). EU đang là một siêu cường kinh tế. Họ không thua kém Mỹ về GDP, chỉ số xuất nhập khẩu… nhưng về vốn và nhiều mặt quan trọng khác, đặc biệt về khoa học – công nghệ, thì vẫn thua kém Mỹ. Trung Quốc đang nổi lên thành đối thủ đe doạ sự bá quyền của Mỹ.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng chỉ trong vòng 10 – 15 năm nữa (2015 – 2020), Trung Quốc sẽ đuổi kịp Mỹ, vượt xa Nhật Bản. Nhật Bản trong vài chục năm tới khó trở lại thời kì tăng trưởng kinh tế cao như những năm 60 và 70 của thế kỉ XX, nhưng vẫn là ―người khổng lồ‖ về kinh tế, vẫn là một trong ba trụ cột của kinh tế thế giới, có vai trò đặc biệt lớn với khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Nga tuy suy yếu về kinh tế, nhưng vẫn là nước duy nhất có khả năng cạnh tranh được với Mỹ về quân sự, do có tiềm lực to lớn về vũ khí hạt nhân chiến lược. Thứ hai, việc tập hợp lực lượng: xuất phát từ lợi ích dân tộc, sự tăng cường hợp tác của các nước có mục đích chung là tăng cường nội lực mà trước hết là để phát triển kinh tế.
Hình thức tập hợp lực lượng diễn ra gồm nhiều lớp đan cài, vừa đấu tranh vừa hợp tác, vừa tranh thủ vừa kiềm chế trên quy mô toàn cầu. Hiện có một số nét mới nổi trội - đó là sự cải thiện quan hệ trong tam giác Nga – Trung Quốc – Ấn Độ. Tập hợp Nga – Trung Quốc được thực hiện thông qua Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Tổ chức này có một cơ chế riêng, có Ban Thư ký và những thoả thuận hợp tác cụ thể….Hiện nay thực tế đang hình thành tư tưởng thành lập khu vực kinh tế Đông Á, bao gồm 10 nước Đông Nam Á cộng ba nước Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Tập hợp Á - Âu diễn ra thông qua cơ chế ASEM. Trên thế giới đang diễn ra sự tập hợp lực lượng với những quan hệ nhằng nhịt qua lại, liên kết với nhau trong từng vấn đề, trong từng thời điểm, ở từng địa bàn… Điều đáng chú ý là mọi tập hợp bao giờ cũng ―liếc‖ về phía bên kia bờ Đại Tây Dương, mà chưa ngoảnh mặt đi với Mỹ, vẫn coi Mỹ là đối tác quan trọng hàng đầu. Điều này vừa là cơ hội vừa là thách thức cho Hoa Kỳ trong việc lựa chọn một hình thức tập hợp lực lượng mới phù hợp với tình hình mới. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ ba, nguy cơ chiến tranh huỷ diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, cục bộ, xung đột sắc tộc, dân tộc, tôn giáo gia tăng.
Trong chiến tranh lạnh, trung bình mỗi năm xảy ra khoảng 4 – 5 cuộc xung đột vũ trang, nhưng từ sau chiến tranh lạnh tới nay, con số này đã tăng lên 34,5 cuộc. Số quốc gia có vũ khí hạt nhân hiện nay khoảng 10 nước và có khoảng 30 quốc gia có công nghệ hạt nhân.