Phân tích Tội sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản (Điều 290 BLHS 2015)

Phân tích Tội sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 BLHS 2015, làm rõ các dấu hiệu pháp lý, khung hình phạt và thực tiễn xét xử.

Chuyên ngành

Luật Hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Công trình dự thi nghiên cứu khoa học sinh viên

2023

53
29
2

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Đặc điểm của Tội Chiếm Đoạt Tài Sản Qua Mạng Máy Tính

Điều 290 BLHS quy định về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Đây là một loại tội phạm công nghệ thông tin hiện đại, nơi người phạm tội lợi dụng các phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái phép. Tội chiếm đoạt tài sản qua mạng máy tính có những đặc điểm nổi bật: hành vi được thực hiện từ xa, khó phát hiện, phương thức tinh vi, và tác hại lớn đến xã hội. Các thủ đoạn như lừa đảo qua mạng xã hội, giả mạo tài khoản, sử dụng công nghệ giả giọng nói đã gây thiệt hại hàng tỷ đồng cho cộng đồng. Pháp luật hình sự Việt Nam đã kịp thời sửa đổi, bổ sung để đối phó với hình thức tội phạm này, thể hiện tính cấp thiết của việc bảo vệ tài sản công dân trong thời đại số.

1.1. Khái niệm Tội Chiếm Đoạt Tài Sản Qua Mạng Máy Tính

Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản là hành vi sử dụng công nghệ thông tin nhằm mục đích lợi dụng, tạo gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Khác với tội chiếm đoạt tài sản truyền thống, hình thức này sử dụng môi trường số để thực hiện, từ việc chiếm đoạt thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng đến lừa đảo qua các nền tảng số. Đây là tội phạm thuộc chương XXI - các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng theo Bộ Luật Hình Sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1.2. Đặc Điểm Nổi Bật của Hành Vi Phạm Tội

Đặc điểm chính của tội chiếm đoạt tài sản qua mạng máy tính bao gồm: thực hiện từ xa không cần tiếp xúc trực tiếp, khó phát hiện vì để lại ít dấu vết vật lý, sử dụng các thủ đoạn tinh vi như giả mạo danh tính, sử dụng công nghệ AI giả giọng nói. Tác hại của hành vi này rất lớn, gây thiệt hại kinh tế và tâm lý cho nạn nhân. Các đối tượng phạm tội thường có kiến thức công nghệ cao, hoạt động có tổ chức, khó bắt giữ.

II. Dấu Hiệu Pháp Lý của Tội Chiếm Đoạt Tài Sản Qua Mạng Máy Tính

Theo Điều 290 BLHS, dấu hiệu pháp lý của tội chiếm đoạt tài sản qua mạng máy tính được xác định rõ ràng qua các yếu tố cấu thành tội phạm. Hành vi phạm tội phải thỏa mãn các điều kiện về khách thể, mặt khách quan và mặt chủ quan. Khách thể của tội này là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào sở hữu tài sản, bao gồm cả tài sản trong không gian số. Mặt khách quan là hành động sử dụng công cụ điện tử để chiếm đoạt, gây thiệt hại kinh tế. Mặt chủ quan yêu cầu phải có ý thức và ý định chiếm đoạt tài sản. Pháp luật còn quy định những trường hợp ngoại lệ khi không thuộc Điều 173 và Điều 174 BLHS, để tránh trùng lặp trong tố tụng. Sự kết hợp các dấu hiệu này tạo thành cơ sở pháp lý đầy đủ để xác định và xử phạt tội phạm.

2.1. Khách Thể và Mặt Khách Quan

Khách thể của tội chiếm đoạt tài sản qua mạng máy tính là mọi người, mọi tổ chức có tài sản bị chiếm đoạt. Mặt khách quan bao gồm hành động sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện chiếm đoạt. Hành vi phải gây thiệt hại kinh tế, là hành vi trái pháp luật. Ngôn ngữ pháp lý đòi hỏi phải xác định rõ phương thức, thời gian, địa điểm thực hiện hành vi để chứng minh sự xuất hiện của các dấu hiệu khách quan.

2.2. Mặt Chủ Quan và Trách Nhiệm Hình Sự

Mặt chủ quan yêu cầu người phạm tội phải có ý thức rõ ràng về hành vi sử dụng công cụ điện tử và ý định chiếm đoạt tài sản. Đây là tội phạm có ý thức, không phải là hành vi vô ý hay do sơ suất. Trách nhiệm hình sự phát sinh khi đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, người thực hiện có thể bị xử phạt theo Điều 290 BLHS với hình phạt từ 2-7 năm tù.

III. Quy Định Pháp Luật Quốc Tế và So Sánh với Các Nước

Tội sử dụng mạng máy tính để chiếm đoạt tài sản không chỉ là vấn đề của pháp luật Việt Nam mà còn được các Điều ước, Công ước Quốc tế quan tâm và quy định. Việt Nam là thành viên của nhiều Công ước Quốc tế liên quan đến tội phạm công nghệ thông tin, bao gồm Công ước Budapest về Tội phạm Mạng. Các nước trên thế giới như Mỹ, Anh, Úc, Đức đều có quy định riêng về hành vi chiếm đoạt tài sản qua mạng máy tính. Nhìn chung, các nước đều coi đây là tội phạm nghiêm trọng, xử phạt nặng để cảnh báo và ngăn chặn. So sánh pháp luật giữa các nước cho thấy Việt Nam đang bắt kịp xu hướng bảo vệ tài sản trong thời đại số, mặc dù vẫn cần hoàn thiện thêm một số điểm.

3.1. Các Điều Ước Quốc Tế Mà Việt Nam Là Thành Viên

Việt Nam là thành viên của Công ước Budapest về Tội phạm Mạng, quy định về tội phạm công nghệ thông tin bao gồm hành vi chiếm đoạt tài sản qua mạng máy tính. Công ước này yêu cầu các quốc gia thành viên phải có quy định pháp luật nội địa phù hợp để truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc Việt Nam tham gia giúp nước ta có cơ sở pháp lý quốc tế để hợp tác trong cuộc chiến chống tội phạm mạng.

3.2. Pháp Luật Hình Sự Của Một Số Nước Tiên Tiến

Các nước như Mỹ, Anh, Úc, Đức đều có quy định pháp luật riêng biệt về tội phạm chiếm đoạt tài sản qua mạng máy tính. Ví dụ, Mỹ có Computer Fraud and Abuse Act, Anh có Computer Misuse Act. Các quốc gia này xử phạt nặng, từ 5-15 năm tù tùy mức độ. So sánh với Điều 290 BLHS Việt Nam (2-7 năm), việt nam có xu hướng tương tự nhưng cần tiếp tục hoàn thiện quy định.

IV. Thực Tiễn Áp Dụng Pháp Luật và Kiến Nghị Hoàn Thiện

Thực tiễn áp dụng Điều 290 BLHS cho thấy nhiều vụ án tội chiếm đoạt tài sản qua mạng máy tính đã được xử lý thành công. Tiêu biểu là bản án số 21/2023/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, khi bị cáo chiếm đoạt tài khoản Facebook rồi lừa bạn bè chuyển tiền. Tuy nhiên, quá trình áp dụng vẫn gặp khó khăn trong thực tiễn, đặc biệt là việc phân biệt giữa tội sử dụng mạng máy tính để chiếm đoạt tài sản (Điều 290) với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) hay tội trộm cắp (Điều 173). Cần hoàn thiện quy định pháp luật để làm rõ ranh giới, tăng cường đào tạo cán bộ tư pháp, xây dựng cơ sở dữ liệu án lệ. Cần cập nhật hình phạt để phù hợp với thiệt hại, tăng cường hợp tác quốc tế trong truy bắt tội phạm mạng xuyên quốc gia.

4.1. Thực Tiễn Xử Lý Các Vụ Án

Thực tiễn tư pháp cho thấy các cơ quan chức năng đã áp dụng Điều 290 BLHS để xử lý nhiều vụ án chiếm đoạt tài sản qua mạng máy tính. Bản án 21/2023/HSST là ví dụ điển hình khi bị cáo lấy cắp tài khoản Facebook sau đó lừa đảo mượn tiền từ các bạn bè. Các vụ án này cho thấy sự tỉnh táo của hệ thống tư pháp, nhưng vẫn cần cải thiện chuyên môn và kỹ năng điều tra tội phạm công nghệ.

4.2. Kiến Nghị Hoàn Thiện Pháp Luật và Biện Pháp Đối Phó

Kiến nghị hoàn thiện bao gồm: (1) Làm rõ ranh giới pháp luật giữa các tội phạm liên quan; (2) Tăng cường đào tạo cán bộ tư pháp về tội phạm công nghệ thông tin; (3) Xây dựng cơ sở dữ liệu án lệ thống nhất; (4) Cập nhật hình phạt cho phù hợp với thực tiễn; (5) Hợp tác quốc tế trong truy bắt tội phạm xuyên quốc gia; (6) Phát triển công nghệ điều tra tội phạm mạng máy tính.

18/12/2025
Tội sử dụng mạng máy tính mạng viễn thông phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 Khi tiến hành so sánh hình thức và nội dung về định nghĩa Tội phạm sử dụng MMT, MVT thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhóm nghiên cứu cũng rút ra những điểm chính như sau:  Giống nhau: Cả 3 Điều 224, 225 và 226 của BLHS 1999 chỉ mới quy định về việc cố tình lan truyền, phát tán, khai thác và sử dụng trái phép MMT cũng như các quy định về chế tài nhằm răn đe các hành vi phạm tội được quy định tại khoản của 2 Điều luật 224, 225, 226. Do sự phát triển của công nghệ từ những năm 1999 còn nhiều hạn chế cùng với đó là cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ dẫn đến suy thoái kinh tế ở một số nước trong khu vực có thể còn diễn biến phức tạp dẫn đến chưa phát sinh khái niệm “tội phạm mạng” và chính vì lẽ đó BLHS 1999 chưa có những quy định điều chỉnh về các hành vi phạm tội liên quan đến MMT hay MVT và các PTĐT khác. Trong khi Điều 18 Luật an ninh 2018 và Điều 290 BLHS 2015 thì có phần tiến bộ và giống nhau ở chỗ là đều có những quy định về hành vi sử dụng MMT, MVT, PTĐT để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, cụ thể là hành vi chiếm đoạt tài sản.  Khác nhau: 18 Tiêu Luật Hình sự 1999 Luật an ninh 2018 Luật Hình sự 2015 chí Phạm Cả 3 Điều 224, 225 và Phạm vi điều chỉnh của Điều 290 BLHS 2015 chỉ vi điều 226 BLHS 2015 chưa Điều 18 Luật an ninh quy định về các hành vi chỉnh có điều chỉnh hành 2018 rộng hơn Điều 290 cung cấp trái phép các vi lợi dụng MMT thực BLHS 2015 ở chỗ là dịch vụ như các giao dịch hiện chiếm đoạt tài sản trong trường hợp có bất điện tử, kinh doanh đa cấp mà chỉ là những quy kỳ hành vi vi phạm pháp hoặc lưu hành các loại thẻ định trong trường hợp luật về an ninh quốc gia, ngân hàng giả nhằm việc phát tán lan truyền trật tự, an toàn xã hội chiếm đoạt tài sản thì đều gây thiệt hại đến lợi ích được quy định tại khoản thuộc đối tượng điều thì sẽ được áp dụng các 1 Điều 18 kể cả hành vi chỉnh của Điều 290 Luật hình thức chế tài quy chiếm đoạt tài sản hoặc này.

hành vi vi phạm bản quyền và sở hữu trí tuệ trên không gian mạng,. Đối Các đối tượng cố ý lan Các đối tượng đăng tải, Các đối tượng sử dụng tượng truyền, phát tán các phát tán, giả mạo thông thông tin để truy cập bất điều chương trình vi-rút qua tin được quy định tại hợp pháp nhằm chiếm chỉnh MMT hoặc vi phạm Điều 16 Luật an ninh đoạt hoặc lừa đảo tài sản các quy định về vận 2018 nhằm vi phạm trong các giao dịch dịch hành, khai thác và sử pháp luật về an ninh điện tử. dụng MMT hoặc các quốc gia, trật tự, an toàn phương thức khác gây xã hội. rối loạn hoạt động.

19 Chế tài Phạt tiền hoặc cấm Chưa có các quy định cụ - Khung phạt thấp nhất: hành nghề thể. cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù 6 tháng. - Khung phạt cao nhất: 20 năm tù hoặc phạt tiền 100. Về định nghĩa Tội phạm sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bộ luật hiện hành đã có thêm quy định để không nhầm lẫn với Điều 173, Điều 174 BLHS nhưng vẫn chưa rõ ràng ở từ “tài khoản”.

Có thông tin cho rằng đây chỉ đơn thuần là tài khoản ngân hàng, không liên quan gì đến tài khoản facebook. Như vậy, những trường hợp lừa đảo thông qua việc hack facebook không vi phạm quy định này.9 Tuy nhiên theo BTMDT 04/2015, đối với các trường hợp có tính chất của tội phạm truyền thống như: lừa đảo, trộm cắp, vu khống nhưng nếu thực hiện thông qua công nghệ thông tin; MVT, mạng internet (trên thế giới ảo) thì có khả năng gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và nếu chỉ coi là tính tiết tăng nặng định khung trong môt số tội phạm tương ứng thì không phản ánh hết bản chất nguy hiểm của hành vi. Ví dụ: hành vi vu khống, chỉ cần nhấn phím, là hàng vạn người có thể biết…nên không thể sử dụng tội vu khống, tuyên truyền chống Nhà nước thông thường để xử lý.10 Vậy, theo dự luật vào năm 2015, việc sử dụng MMT, MVT để lừa đảo chiếm đoạt tài sản này có liên quan đến việc sử dụng tài khoản facebook, thực hiện hành vi phạm tội trên thế giới ảo chứ tài khoản này không chỉ là tài khoản ngân hàng, tài khoản liên quan đến tiền bạc như nhận định trên. Trên tinh thần đó, thạc sĩ Nguyễn Quý Khuyến cũng cho rằng việc truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm cả tài khoản ngân hàng, tài khoản các website có thu phí, tài khoản mạng xã hội như facebook, zalo, email… là một trong những hành vi khách quan của tội phạm này.11 9 Hoàng Quảng Lực, “Định tội đối với hành vi sử dụng mạng xã hội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Tạp chí Tòa Án Nhân Dân điện tử, năm 2022.

10 Ban Soạn Thảo Bộ Luật Hình Sự (Sửa Đổi), Bản Thuyết Minh Chi Tiết Về Dự Thảo Bộ Luật Hình Sự (Sửa Đổi) Tại Hà Nội Vào Tháng 4 Năm 2015. 11 Nguyễn Quý Khuyến, Về sử dụng mạng máy fnh, mạng viễn thông, phương aện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, Tạp chí Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số 9, năm 2020. 20 Tóm lại, cụm từ ‘tài khoản’ được quy định trong BLHS hiện hành không chỉ là tài khoản ngân hàng, liên quan đến tiền đơn thuần, mà còn bao gồm cả những loại tài khoản mạng xã hội, tài khoản những website có thu phí. Từ đó, những hành vi sử dụng những tài khoản này nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản có thể sẽ vi phạm Điều 290 BLHS.

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 2. Dấu hiệu pháp lý của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam 2. Khách thể Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.12 Tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý an ninh mạng, an toàn công cộng, trật tự công cộng và quyền sở hữu tài sản của cơ quan, cá nhân, tổ chức qua việc sử dụng công cụ là MMT, MVT, PTĐT; … như chúng sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ….; lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản; và một số hình thức khác gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, mà cụ thể ở đây chính là tài sản. Đối tượng tác động của tội phạm là những quy định của Nhà nước về MMT, MVT, thiết bị điện tử, an ninh mạng; quyền và tài sản của công ty, tổ chức, cá nhân và nhà nước.

Như vậy, khách thể của tội phạm không chỉ là quyền sở hữu tài sản của con người mà tội phạm còn xâm phạm an toàn hoạt động của máy tính, MVT, PTĐT. Mặt khách quan Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Vậy, hành vi khách quan của tội phạm, hậu quả của tội phạm và công cụ, phương tiện phạm tội là mặt khách quan của tội sử dụng MMT, MVT, PTĐT thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Trong đó, hành vi khách quan của tội này bao gồm: 12 Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Hình sựViệt Nam -Phần chung (tái bản lần thứ nhất, có sửa đổi, bổ sung), NXB Hồng Đức -Hội luật gia Việt Nam, tr.

21 Thứ nhất, sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ, chủ tài khoản hoặc thanh toán dịch vụ, mua hàng hóa. Hành vi được thực hiện thông qua các thủ đoạn như trộm cắp, lừa đảo để có được thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của người khác, sau đó dùng thông tin đó để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản. Ví dụ: kẻ phạm tội gửi email giả mạo, lừa đảo hoặc cài phần mềm gián điệp như phần mềm keylogger (ghi lại mọi thao tác của người dùng thẻ, tài khoản trên máy) để có được thông tin, mật khẩu. Sau đó, sử dụng thông tin có được để chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ.

Thứ hai, làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Thẻ ngân hàng giả là thẻ không do ngân hàng có thẩm quyền phát hành thẻ đó phát hành. Làm thẻ ngân hàng giả là việc cá nhân không có thẩm quyền sản xuất, phát hành thẻ ngân hàng nhưng sản xuất giống như thẻ ngân hàng (trong đó chứa đựng thông tin, dữ liệu như thẻ của ngân hàng phát hành).

Thủ đoạn phạm tội thường là người phạm tội mua thẻ nhựa trắng, mua hoặc đánh cắp thông tin thẻ, mật mã giao dịch. Sau đó dùng máy ghi thẻ để sản xuất thẻ giả, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ giả để chiếm đoạt tài sản của người khác. Hoặc dùng thẻ ngân hàng của nước ngoài đã hết hạn sử dụng vào nước khác để rút tiền… Thứ ba, truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản. Đó là hành vi vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc các phương thức khác truy cập bất hợp pháp vào của cơ quan, tổ chức nhằm chiếm đoạt tài sản (trực tiếp) của chủ thẻ đó.

Thứ tư, lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ