Luận văn: Thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về diện và hàng thừa kế

Luận văn phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về diện và hàng thừa kế, từ đó đề xuất các giải pháp, phương hướng hoàn thiện quy định pháp luật.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2020

71
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm và Vai Trò của Diện và Hàng Thừa Kế trong Pháp Luật Việt Nam

Diện và hàng thừa kế là những khái niệm cơ bản trong lĩnh vực pháp luật dân sự, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định những người có quyền được hưởng di sản khi người để lại qua đời. Theo Bộ Luật Dân Sự năm 2015, quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản được Nhà nước bảo vệ nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của công dân. Sự công nhận quyền thừa kế không chỉ tạo động lực cho người dân tích lũy tài sản mà còn giúp duy trì sự ổn định xã hội. Việc quy định rõ ràng về diện thừa kếhàng thừa kế giúp tránh tranh chấp gia đình và đảm bảo công bằng trong phân chia di sản. Điều này phản ánh quan điểm của pháp luật Việt Nam là kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng.

1.1. Khái Niệm Diện Thừa Kế

Diện thừa kế là danh sách những người có quyền thừa kế dựa trên mối quan hệ pháp lý với người để lại. Theo pháp luật Việt Nam, diện thừa kế được xác định theo ba quan hệ chính: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thốngquan hệ nuôi dưỡng. Những người trong diện thừa kế có thể là vợ/chồng, con cái, cha mẹ, anh chị em ruột, cháu ruột, ông bà ruột hoặc những người được nuôi dưỡng hợp pháp. Việc xác định chính xác diện thừa kế là tiền đề để xác định hàng thừa kế tiếp theo.

1.2. Khái Niệm Hàng Thừa Kế

Hàng thừa kế là thứ tự ưu tiên để những người trong diện thừa kế được hưởng di sản. Pháp luật Việt Nam quy định ba hàng thừa kế chính. Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ/chồng, con cái và cha mẹ của người để lại. Hàng thừa kế thứ hai bao gồm anh chị em ruột và ông bà của người để lại. Hàng thừa kế thứ ba là những người khác có quan hệ pháp lý với người để lại. Nguyên tắc cơ bản là những người ở hàng thừa kế trước được thừa kế trước.

II. Thực Tiễn Áp Dụng Pháp Luật về Diện và Hàng Thừa Kế

Trong những năm gần đây, thực tiễn áp dụng pháp luật về diện và hàng thừa kế ở Việt Nam ghi nhận nhiều vụ tranh chấp phức tạp. Các vụ án thừa kế thường liên quan đến xác định danh tính người thừa kế, mâu thuẫn giữa hàng thừa kế khác nhau, hoặc tranh chấp về giá trị di sản. Thực trạng cho thấy nhiều trường hợp khó khăn trong việc cân bằng giữa quyền lợi của những người trong diện thừa kế khi di sản không đủ chia đều. Ngoài ra, sự thiếu hiểu biết pháp luật của người dân cũng dẫn đến nhiều tranh chấp không cần thiết. Nguyên nhân của những vướng mắc này bao gồm: thiếu tài liệu chứng minh mối quan hệ pháp lý, xung đột giữa quy định pháp luật cũ và mới, và sự mơ hồ trong việc xác định giá trị tài sản thừa kế.

2.1. Các Vụ Tranh Chấp Thừa Kế Tiêu Biểu

Thực tế giải quyết tranh chấp thừa kế cho thấy những trường hợp phức tạp khi xác định diện thừa kế trong hàng thừa kế thứ nhất. Ví dụ như tranh chấp giữa vợ/chồng và con cái về phần thừa kế khi có những con riêng từ người khác. Hay tranh chấp thừa kế trong hàng thừa kế thứ hai khi xác định anh chị em ruột so với ông bà ruột. Những vụ án về thừa kế này yêu cầu các cơ quan tư pháp phải cân nhắc kỹ lưỡng từng chi tiết pháp lý.

2.2. Nguyên Nhân Gây Khó Khăn trong Áp Dụng

Những hạn chế trong pháp luật thừa kế Việt Nam bao gồm quy định chưa rõ ràng về diện thừa kế trong các tình huống đặc thù. Sự thay đổi từ Pháp Lệnh Thừa Kế 1990 sang Bộ Luật Dân Sự 2015 cũng tạo ra nhiều khó khăn. Ngoài ra, thiếu các kiến nghị hoàn thiện cụ thể và giải pháp thực tiễn khiến việc xử lý vụ án thừa kế kéo dài.

III. Phương Hướng Hoàn Thiện Pháp Luật về Diện và Hàng Thừa Kế

Để hoàn thiện pháp luật về diện và hàng thừa kế, cần tiến hành các cải cách toàn diện. Trước tiên, cần làm rõ hơn các định nghĩa về diện thừa kế trong những tình huống đặc biệt như thừa kế trong gia đình có con riêng. Thứ hai, nên hoàn thiện quy định về hàng thừa kế để tránh nhập nhằng khi có nhiều người trong cùng một hàng. Thứ ba, cần cập nhật pháp luật thừa kế để phù hợp với những thay đổi của xã hội hiện đại. Các kiến nghị hoàn thiện này cần dựa trên kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn lâu dài của các nước phát triển. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật để người dân hiểu rõ về quyền thừa kếdiện thừa kế của họ.

3.1. Những Cải Cách Cần Thiết

Hoàn thiện pháp luật cần tập trung vào việc làm rõ diện thừa kế theo từng loại quan hệ. Đặc biệt cần quy định cụ thể về phần chia của vợ/chồng so với con cái khi di sản có giới hạn. Ngoài ra, cần cải tiến quy trình chứng minh mối quan hệ pháp lý để giảm thiểu tranh chấp. Kiến nghị hoàn thiện này sẽ giúp pháp luật dân sự Việt Nam tiến bộ hơn.

3.2. Vai Trò của Các Cơ Quan Tư Pháp

Các cơ quan tư pháp như Tòa Án Nhân Dân cần có các hướng dẫn chi tiết về cách áp dụng pháp luật thừa kế trong thực tế. Cần xây dựng các tiêu chí rõ ràng để xác định diện thừa kếhàng thừa kế một cách công bằng và nhất quán.

IV. So Sánh với Pháp Luật Thừa Kế của Các Nước Khác

Pháp luật thừa kế của các nước khác trên thế giới cung cấp những bài học quý báu cho Việt Nam. Pháp luật Nhật Bản xác định diện thừa kế dựa trên hàng thừa kế rõ ràng: vợ/chồng được 1/2 với con cái chia 1/2, hoặc vợ/chồng được 2/3 với cha mẹ chia 1/3. Pháp luật Cộng Hòa Pháp sử dụng hệ thống hàng thừa kế phức tạp với sự đảo lộn cân bằng giữa các diện thừa kế khác nhau. Pháp luật Nga áp dụng nguyên tắc chia đều giữa các người trong cùng hàng thừa kế. Pháp luật Iran kết hợp nguyên tắc Hồi giáo với các quy định hiện đại. Những kinh nghiệm này cho thấy cần linh hoạt trong xác định diện thừa kếhàng thừa kế để phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể.

4.1. Mô Hình Thừa Kế Của Nhật Bản và Pháp

Pháp luật Nhật Bảndiện thừa kế rõ ràng với hàng thừa kế được xác định chặt chẽ. Pháp luật Pháp cho phép người để lại có quyền tự do trong việc quy định diện thừa kế thông qua di chúc. Mô hình này cân bằng giữa ý chí cá nhân và bảo vệ những người phụ thuộc. Việt Nam có thể học hỏi cách cân bằng này để hoàn thiện pháp luật thừa kế.

4.2. Bài Học từ Pháp Luật Nga và Iran

Pháp luật Nga áp dụng nguyên tắc công bằng trong hàng thừa kế với sự bao gồm của diện thừa kế rộng rãi. Pháp luật Iran kết hợp truyền thống với hiện đại trong xác định hàng thừa kế. Cả hai mô hình đều có những điểm tích cực mà pháp luật Việt Nam có thể tham khảo để hoàn thiện pháp luật về thừa kế.

18/12/2025
Uận văn tốt nghiệp luật học thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về diện và hàng thừa kế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ 1.1 Khái niệm chung 1.1 Thừa kế và quyền thừa kế Một trong những yếu tố để đánh giá sự vững mạnh của một quốc gia đó chính là sự bảo hộ của Nhà nước về các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như việc kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. Trên tinh thần đó, quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ. Để hiểu và nhận thức sâu sắc về khái niệm quyền thừa kế trước hết phải làm sáng tỏ nội dung khái niệm thừa kế. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì "Thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống" hay theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp thì thừa kế được giải thích là "Sự dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn sống.

Thừa kế luôn gắn với sở hữu. Khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ sở hữu và quan hệ thừa kế đã tồn tại như một tất yếu khách quan. Thừa kế xuất hiện phụ thuộc vào quan hệ sở hữu. Nếu sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế, thì thừa kế là phương tiện duy trì và củng cố quan hệ sở hữu.

Nghiên cứu tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người đã chỉ ra rằng quan hệ thừa kế xuất hiện như một tất yếu khách quan cùng với quan hệ sở hữu. Khi thừa kế tài sản chưa có sự can thiệp của Nhà nước thì thừa kế đơn thuần chỉ là quan hệ xã hội mang tính kinh tế. Khi Nhà nước ra đời, thông qua các quy phạm pháp luật, Nhà nước đã điều chỉnh, tác động đến quá trình dịch chuyển tài sản nói trên bao gồm cả quyền để lại tài sản cũng như quyền hưởng di sản của các chủ thể được gọi chung là quyền thừa kế. Như vậy, khác với thừa kế xuất hiện ngay từ thời kỳ sơ khai, khi xã hội chưa có sự phân chia giai cấp, khái niệm quyền thừa kế chỉ xuất hiện khi có sự xuất hiện của Nhà nước và pháp luật.

Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế có thể được hiểu là một chế định pháp luật bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết cho người còn sống. Theo nghĩa hẹp, quyền thừa kế có thể được hiểu là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể có quyền để lại di sản thừa kế hoặc có quyền hưởng di sản thừa kế của người chết để lại theo ý chí của người đó khi còn sống (bằng di chúc) hoặc theo điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định (thừa kế theo pháp luật). Pháp luật thừa kế ở nước ta trước hết nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động, tôn trọng thành quả lao động do họ làm ra cũng như chuyển thành kết quả đó cho những người thừa kế sau khi họ chết. Mặt khác, quyền thừa kế ở nước ta là một trong những phương tiện 7 để củng cố và phát triển các quan hệ hôn nhân gia đình, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong quan hệ thừa kế, đặc biệt bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.

Qua đó góp phần bảo đảm quyền sở hữu cho mọi cá nhân trong xã hội. Tóm lại, thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của một người đã chết sang cho người còn sống theo những trình tự luật định. Quyền thừa kế của một cá nhân gắn bó chặt chẽ với quyền sở hữu của cá nhân đó. Quyền sở hữu là tiền đề, là cơ sở của quyền thừa kế và ngược lại, quyền thừa kế là căn cứ thiết lập quyền sở hữu mới.

Vì vậy, hệ thống pháp luật dân sự của tất cả các nước trên thế giới bao giờ cũng qui định về vấn đề thừa kế như là một phương thức bảo đảm quyền sở hữu của chủ sở hữu. Thừa kế theo pháp luật về bản chất vừa bảo vệ quyền đương nhiên của người có tài sản được để lại tài sản của họ khi họ chết, vừa bảo vệ quyền của những người có quan hệ huyết thống, gia đình hay thân thuộc với người đã chết có tài sản để lại.2 Di sản thừa kế Theo Từ điển tiếng Việt: "Di sản là của cải, tài sản của người chết để lại" Điều 612 BLDS năm 2015 quy định: "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác". Di sản được Điều 612 BLDS quy định một cách ngắn gọn nhưng khá đầy đủ và có tầm khái quát cao, không dùng phương pháp liệt kê bao gồm những tài sản gì như những quy định trước đây. Như vậy, di sản là toàn bộ những tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đã chết cũng như các quyền về tài sản của người đó bao gồm: Tư liệu sinh hoạt; Tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý được dùng làm đồ trang sức hoặc dùng làm của cải để dành, tiền tiết kiệm ngân hàng, tiền lương, tiền thưởng chưa lĩnh; Nhà ở thuộc sở hữu của người chết; Vốn, cổ phần, vật tư, tư liệu sản xuất của người chết; Tài liệu, dụng cụ máy móc của người làm công tác nghiên cứu; Cây cối mà người được giao sử dụng đất trồng và hưởng lợi trên đất đó; Các quyền về tài sản đó là quyền đòi nợ đồ vật đã cho mượn, cho thuê, chuộc lại tài sản đã cầm cố, quyền đối với tài sản đã thế chấp, đã bồi thường thiệt hại về tài sản, hưởng những quyền lợi của tác giả hoặc chủ sở hữu văn bằng, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả đối với tác phẩm.

8 Tóm lại, di sản được Điều 612 BLDS quy định một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ và có tính khái quát cao. Điều này thể hiện trình độ và kỹ thuật lập pháp của nước ta đã đạt được một kết quả nhất định. Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp và có liên quan đến nhiều vấn đề khác trong quan hệ thừa kế mà chỉ được quy định trong một điều luật nên khi nghiên cứu cũng như khi xét xử phải đặt nó trong mối liên hệ biện chứng với các quy phạm pháp luật khác liên quan trực tiếp đến việc xác định và phân chia di sản. Bởi vậy, việc xác định quyền sở hữu của một người để từ đó xác định di sản khi người đó chết còn gặp nhiều vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn.

Người để lại di sản thừa kế Quyền để lại thừa kế là một quyền cơ bản của cá nhân được pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo hộ. Pháp luật bảo hộ quyền sở hữu của mọi cá nhân đối với những thu nhập hợp pháp của họ. do đó bất kỳ cá nhân nào cũng có quyền quyết định đối với các loại tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của mình. Vì thế cá nhân có quyền lập di chúc cho người khác hưởng tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của mình sau khi mình chết, nếu không có di chúc thì tài sản này được chia theo pháp luật.

Cần lưu ý rằng, người để lại di sản chỉ có thể là cá nhân, không thể là các pháp nhân hay tổ chức. Các pháp nhân hay tổ chức được thành lập với những mục đích và nhiệm vụ khác nhau và tài sản của các pháp nhân, tổ chức đó nhằm để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của chính pháp nhân, tổ chức. Khi các pháp nhân, tổ chức đó đình chỉ hoạt động của mình (phá sản, giải thể.) tài sản của các pháp nhân, tổ chức được giải quyết theo các quy định của pháp luật. Các pháp nhân, tổ chức chỉ tham gia quan hệ thừa kế với tư cách là người được hưởng di sản theo di chúc.

Người thừa kế Người thừa kế là người hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân, tổ chức nhưng người thừa kế theo pháp luật thì chỉ có thể là cá nhân và phải có quan hệ hôn nhân, gia đình hoặc nuôi dưỡng đối với người để lại di sản. Giữa người để lại di sản và người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ pháp lý với nhau. Người thừa kế có quyền sở hữu đối với phần di sản thừa kế, đồng thời họ phải có trách nhiệm với những nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản.

Điều 613 BLDS năm 2015 quy định: 9 “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”1. • Trường hợp người không được quyền hưởng di sản: Là những trường hợp người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật bị tước quyền hưởng di sản vì họ không xứng đáng được hưởng quyền đó. Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015 quy định những trường hợp không được quyền hưởng di sản.

Mặc dù những trường hợp nói trên là những trường hợp không được quyền hưởng di sản nhưng khoản 2 Điều 621 BLDS 2015 quy định những người đó vẫn được hưởng di sản "nếu người để lại di sản biết những hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng thừa kế theo di chúc". Việc không cho hưởng quyền nhận di sản được thực hiện sau khi mở thừa kế. Trong thực tế xảy ra trường hợp làm giả mạo giấy tờ về người thừa kế khác từ chối nhận di sản thừa kế để cho người đó được hưởng nhiều hơn. Giấy tờ này không có giá trị pháp lý nhưng pháp luật không quy định trường hợp này là trường hợp không được hưởng quyền nhận di sản.

Đây là một vấn đề mà các nhà lập pháp cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật hơn nữa.2 Diện và hàng thừa kế 1.1 Khái quát chung về diện và hàng thừa kế * Diện thừa kế Diện thừa kế là một trong những nội dung quan trọng của chế định thừa kế, tuy nhiên vấn đề này lại chưa thực sự được các nhà làm luật quan tâm quy định cụ thể, chi tiết trong luật. Khái niệm diện thừa kế chỉ được quan tâm nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học pháp lý. Còn luật thực định từ trước đến nay chưa có văn bản nào quy định cụ thể về vấn đề này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ