CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Chương này trình bày các nội dung chính như sau: lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu đề tài.1 Lý do chọn đề tài Hình thức dạy và học trực tuyến đang được các trường đại học thúc đẩy phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của mọi đối tượng người học. Dạy và học trực tuyến là xu thế tất yếu mà các nước trên thế giới cũng như Việt Nam hướng tới. Trong thời đại 4.0 hiện nay, nhiều người có xu hướng lựa chọn học trực tuyến bởi cách học thuận tiện, linh hoạt về thời gian và địa điểm. Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục, có một xu hướng đang dần chiếm lĩnh, phổ biến trong thực tiễn giáo dục, dạy học ở các quốc gia.
Đó là học tập di động (Mobile learning) với khả năng đáp ứng các nhu cầu học tập khác nhau, cơ hội học tập mở, dạy học cá nhân hóa, cá thể hóa cao độ, khả năng tiếp cận học liệu số, không gian học tập không giới hạn, hình thành và phát triển kĩ năng số cho người học… Mobile learning (M-learning) là hình thức học qua thiết bị di động cho phép người học tham gia các khóa học, tiếp cận với các tài liệu của khóa học thông qua các thiết bị di động như điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính xách tay,…. Nội dung học tập cung cấp trên M-learning có thể xây dựng nội dung đa dạng từ văn bản, âm thanh, hình ảnh, video và các nội dung khác. Giáo dục dựa trên công nghệ di động được gọi là M-learning được mô tả là học tập thông qua công nghệ di động (Christensen & Knezek, 2018). Theo thống kê của Golbal Market Insignts thì quy mô thị trường Mobile learning đã vượt mốc 20 tỷ USD vào năm 2019 và sẵn sàng tăng trưởng với tốc độ 13% từ năm 2020 đến năm 2026.
Sự tăng trưởng của thị trường là do sự thâm nhập cao của các thiết bị di động trên toàn cầu và sự sẵn có của một loạt các thiết bị di động hiệu quả về chi phí. Đại dịch Covid-19 đang diễn ra sẽ thúc đẩy đáng kể nhu cầu về các giải pháp học tập di động. Việc tăng sở hữu điện thoại thông minh ở một số nền kinh tế phát triển và đang phát triển sẽ thúc đẩy việc mở rộng thị trường học tập trên thiết bị di động trên toàn cầu. Ở các nước đang phát triển, công nghệ di động đã được áp dụng với tỷ lệ cao hơn so với máy tính cá nhân, có lẽ vì máy tính bảng và điện thoại thông minh có giá cả 2 phải chăng hơn và dễ sử dụng hơn (Zambrano và cộng sự, 2012).
Việt Nam phát triển nhanh chóng về mạng internet với tốc độ đường truyền ngày càng cao và giá phí thấp. Việt Nam là quốc gia có số lượng người sử dụng internet lớn thứ 6 châu Á và thứ 12 trên thế giới với 64 triệu người vào năm 2018 (We Are Social, 2018). Vì vậy, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng phát triển đào tạo trực tuyến. Ngày nay, với sự phát triển rất mạnh mẽ của công nghệ và internet đã làm tiền đề cho sự bùng nổ và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới của thiết bị di động thông minh như: điện thoại thông minh, máy tính bảng,.
Các thiết bị di động không chỉ đơn giản là một công cụ liên lạc, tìm kiếm thông tin thông thường, mà đã trở thành một phương tiện cung cấp nhiều chức năng tiện lợi cho người sử dụng như giải trí, mua sắm, học tập,. Hình 1 Số lượng người di2ng Smartphone của nước/Thị trường đứng đầu thế giới năm 2019 (nguồn www.com) Theo báo cáo số lượng người dùng điện thoại thông minh năm 2019 của Adsota năm 2019 thì Việt Nam thuộc top 15 quốc gia có số người dùng điện thoại thông minh cao nhất thế giới với 43,7 triệu người dùng, tương đương với 44,9% tổng dân số, đã chứng minh điện thoại thông minh là điểm chạm quan trọng giữa thương hiệu và người dùng. Sinh viên là nhóm nhân khẩu học lớn nhất về người dùng thiết bị di động, trong 3 khi điện thoại di động /điện thoại thông minh được báo cáo là thiết bị di động được sử dụng thường xuyên nhất (Crompton & Burke, 2018; Lavidas và cộng sự, 2019). Hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, điện thoại thông minh là công cụ hỗ trợ học tập không thể thiếu của sinh viên.
Theo kết quả khảo sát Đỗ Văn Hùng và cộng sự (2014) về tình hình sử dụng thiết bị di động của sinh viên tại Việt Nam, kết quả cho thấy có 50% sinh viên sở hữu một chiếc điện thoại thông minh và mục đích sử dụng các thiết bị di động đó thì kết quả khảo sát cho thấy mục đích sử dụng các thiết bị di động trong học tập được sinh viên chú trọng với tỉ lệ là 80%. Điện thoại thông minh không những là công cụ/thiết bị được sinh viên sử dụng cho mục đích giao tiếp, giải trí, thể hiện giá trị bản thân mà còn là một công cụ hỗ trợ việc học hiệu quả. việc sử dụng điện thoại thông minh một cách hợp lý sẽ giúp cho kết quả học tập của sinh viên đạt kết quả tốt hơn. Ở Châu Âu như các nước Anh, Đan Mạch, Hà Lan, Nga,., các nhà hoạch định chính sách đã đưa ra một số sáng kiến để thúc đẩy việc học tập trên thiết bị di động.
Ví dụ chính phủ Anh đã khởi xướng các chương trình học tập di động cho giáo dục cấp tiểu học, trung học và hợp tác với các công ty viễn thông để cung cấp công nghệ di động cho sinh viên đại học. Tại các nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Bangladesh đã triển khai các dự án học tập di động quy mô lớn với chính sách tạo điều kiện sử dụng thiết bị di động trong giáo dục, đơn cử ở Hàn Quốc đã tích hợp các thiết bị di động vào môi trường học đường hàng ngày nhằm chuẩn bị cho học sinh, sinh viên môi trường học tập trong tương lai. Trước khi dịch bệnh Covid-19 diễn ra, các trường đại học ở Việt Nam đã quan tâm đến đào tạo E-learning từ khá sớm, mặc dù vậy E-learning được sử dụng dưới hình thức hỗ trợ hoặc kết hợp cho việc học truyền thống trên lớp. Các trường đã triển khai chương trình này như Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Đà Nẵng, Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên… chủ yếu mang tính chất thí điểm và đào tạo trực tuyến trên thiết bị di động (M-learning) vẫn còn là điều mới mẽ (Tâm, N., 2017; Linh và nhóm đồng tác giả, 2017; Thái, V.
Trong những năm gần đây đã có một số trường đại học đã nhìn thấy tiềm năng trong đào tạo trực tuyến đặc biệt trên thiết bị di động đã đầu tư xây dựng hệ thống giảng dạy trực tuyến hiện đại có thể liệt kê các trường như sau: Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh với các hệ thống học trực tuyến đào tạo trực tuyến 4 http://elolms.vn, đào tạo chính quy: https://lms.vn/ và thời gian vừa qua, trường đã ra mắt hệ thống học trực tuyến miễn phí: Hệ thống VMOOCs trên nền tảng MOOCs, nhằm cung cấp giải pháp học tập trực tuyến, thoả khát vọng nâng cao tri thức mọi lúc, mọi nơi. Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh với hệ thống đào tạo trực tuyến UTEX (https://utexlms.vn/) được đầu tư hiện đại và bài bản,.Trong thời gian dịch Covid-19, khoảng 50% các trường đại học Việt Nam đã triển khai đào tạo trực tuyến với nhiều mức độ khác nhau nhằm hạn chế gián đoạn chương trình.
Người học sử dụng các ứng dụng trực tuyến khác nhau từ nỗ lực tự thân của các cơ sở giáo dục và sự đồng hành với trách nhiệm xã hội cao của các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến trong và ngoài nước. Nhiều trường học đang làm cho việc học trực tuyến trở nên dễ thích ứng hơn, nhiều chương trình cung cấp nền tảng của trường học trên các ứng dụng dành cho thiết bị di động trong đó đặc biệt chú trọng đến điện thoại thông minh, giúp các bài giảng trở nên thân thiện và gần gũi hơn với sinh viên. Theo Hà Ánh, (2020), một khảo sát nhanh về học trực tuyến thực hiện với gần 4.000 sinh viên một trường đại học tại Việt Nam, kết quả khảo sát cho thấy đa số sinh viên học trực tuyến bằng điện thoại thông minh, kết quả cũng cho thấy có tới 90% sinh viên tham gia suốt lớp học, có nhiều ý kiến cho rằng học sử dụng điện thoại thông minh học trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tiếp cận công nghệ thông tin, rèn tính chủ động trong việc học,… nhưng kết cuộc khảo sát cũng cho thấy một số hạn chế của việc học trực tuyến khi sử dụng điện thoại thông minh như : như đường truyền, tài nguyên số chưa phong phú, phương pháp giảng dạy của giảng viên chưa phù hợp với giảng dạy trực tuyến, ý thức học tập của sinh viên còn hạn chế…. Để hiểu được ý định của người học đối với việc chấp nhận và sử dụng điện thoại thông minh trong học tập trên hệ thống M-learning và quan trọng là phải xác định, khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng điện thoại thông minh như một công cụ hỗ trợ học tập; vì những điều này tạo thành một tiêu chí để triển khai học tập trên thiết bị di động và đặc biệt là điện thoại thông minh.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu để hiểu về M-learning và các thiết bị di động để học tập trên hệ thống M-learning nhưng tại Việt Nam mặc dù cũng có một vài nghiên cứu về M-learning như nghiên cứu của Murphy và cộng sự, (2014) về xu hướng học tập trên thiết bị di động của sinh viên tại Việt Nam đã chỉ ra rằng M-learning có vai trò rõ ràng trong việc hỗ trợ học tập của 5 người học. Nghiên cứu của Trịnh Thị Phương Thảo, (2013) về khai thác M-learning trong đào tạo tín chỉ cho rằng điều kiện của Việt Nam hiện nay hoàn toàn cho phép ta bắt tay vào nghiên cứu và triển khai M-learning trong đào tạo tín chỉ,…các nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức khám phá, chưa nghiên cứu kỹ lưỡng về các yếu tố ảnh hưởng đến với sử dụng thiết bị động đặc biệt là điện thoại thông minh trong học tập trên nền tảng M-learning. Do đó, cần có một cuộc điều tra sâu rộng về các yếu tố ảnh hưởng đến việc học tập của người học trong việc sử dụng điện thoại thông minh.