Các yếu tố ảnh hưởng ý định chấp nhận điện thoại thông minh học M-Learning tại Việt Nam

Nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định sử dụng điện thoại thông minh cho học tập trên nền tảng m-learning của người học tại Việt Nam. Tìm hiểu ngay!

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

174
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

ABSTRACT

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa của đề tài

1.6. Kết cấu luận văn

2. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Điện thoại thông minh (Smartphone)

2.2. Ý định hành vi, Hành vi sử dụng:

2.3. Lý thuyết hành vi hợp lý

2.4. Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA)

2.5. Mô hình hành vi có kế hoạch (TPB)

2.6. Các mô hình chấp nhận công nghệ của người dùng

2.6.1. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM)

2.6.2. Mô hình lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT)

2.6.3. Mô hình lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ 2 (UTAUT2)

2.7. Các nghiên cứu với mô hình UTAUT2

2.8. Mô hình nghiên cứu, các yếu tố và giả thuyết nghiên cứu

2.8.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất

2.8.2. Kỳ vọng hiệu quả:

2.8.3. Kỳ vọng nỗ lực

2.8.4. Ảnh hưởng xã hội

2.8.5. Điều kiện thuận lợi

2.8.6. Động lực thụ hưởng

2.8.7. Chất lượng dịch vụ:

2.8.8. Ý định hành vi (BI):

2.8.9. Hành vi sử dụng

2.8.10. Các yếu tố nhân khẩu học

2.9. Xây dựng thang đo sơ bộ:

3. CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu và công cụ nghiên cứu

3.2.1. Thiết kế nghiên cứu định tính

3.2.2. Thiết kế nghiên cứu định lượng

3.3. Xử lý dữ liệu

3.3.1. Thống kê mô tả

3.3.2. Đánh giá độ phù hợp mô hình đo lường

3.3.3. Đánh giá độ phù hợp của mô hình cấu trúc

3.3.4. Kiểm định vai trò điều tiết

4. CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả

4.2. Đánh giá mô hình đo lường

4.2.1. Độ tin cậy của thang đo

4.2.2. Đánh giá giá trị hội tụ của thang đo

4.2.3. Đánh giá giá trị phân biệt

4.3. Đánh giá mô hình cấu trúc

4.3.1. Kiểm tra vấn đề đa cộng tuyến

4.3.2. Đánh giá sự phù hợp của mô hình

4.3.3. Đo lường hệ số R2, f2 , Q2

4.3.4. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

4.4. Đánh giá vai trò biến điều tiết Tuổi, Giới tính, Kinh nghiệm

4.5. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Đề xuất nghiên cứu tương lai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤC LỤC 1 BẢNG HỎI PHỎNG VẤN KHÁM PHÁ

PHỤC LỤC 2 BẢNG HỎI PHỎNG VẤN KHÁM PHÁ

PHỤC LỤC 3 BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT

PHỤC LỤC 4 DANH SÁCH CHUYÊN GIA THAM GIA PHỎNG VẤN

PHỤC LỤC 5 DANH SÁCH NGƯỜI HỌC THAM GIA PHỎNG VẤN

PHỤC LỤC 6 : TỔNG HỢP CÁC BẢNG PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

Tóm tắt

I. Tổng quan về Điện thoại thông minh Học tập M Learning

Hình thức dạy và học trực tuyến ngày càng được thúc đẩy bởi các trường đại học nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng. Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục, Mobile Learning (M-learning) nổi lên như một xu hướng với khả năng đáp ứng các nhu cầu học tập khác nhau, cơ hội học tập mở, dạy học cá nhân hóa, khả năng tiếp cận học liệu số, và không gian học tập không giới hạn. M-learning là hình thức học qua thiết bị di động, cho phép người học tham gia các khóa học, tiếp cận tài liệu thông qua điện thoại thông minh, máy tính bảng. Nội dung học tập cung cấp trên M-learning có thể xây dựng đa dạng từ văn bản, âm thanh, hình ảnh, video. Theo thống kê của Golbal Market Insignts, quy mô thị trường Mobile learning đã vượt mốc 20 tỷ USD vào năm 2019 và sẵn sàng tăng trưởng với tốc độ 13% từ năm 2020 đến năm 2026. Sự tăng trưởng của thị trường là do sự thâm nhập cao của các thiết bị di động trên toàn cầu. Đại dịch Covid-19 cũng thúc đẩy nhu cầu về các giải pháp học tập di động. Tại Việt Nam, internet phát triển nhanh chóng và giá phí thấp. Việt Nam là quốc gia có số lượng người sử dụng internet lớn thứ 6 châu Á và thứ 12 trên thế giới với 64 triệu người vào năm 2018. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng phát triển đào tạo trực tuyến. Điện thoại thông minh trở thành một phương tiện cung cấp nhiều chức năng tiện lợi cho người sử dụng như giải trí, mua sắm, học tập. Theo báo cáo số lượng người dùng điện thoại thông minh năm 2019 của Adsota, Việt Nam thuộc top 15 quốc gia có số người dùng điện thoại thông minh cao nhất thế giới với 43,7 triệu người dùng. Sinh viên là nhóm nhân khẩu học lớn nhất về người dùng thiết bị di động, và điện thoại di động/điện thoại thông minh là thiết bị được sử dụng thường xuyên nhất. Hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, điện thoại thông minh là công cụ hỗ trợ học tập không thể thiếu của sinh viên. Theo kết quả khảo sát Đỗ Văn Hùng và cộng sự (2014), có 50% sinh viên sở hữu điện thoại thông minh và mục đích sử dụng trong học tập chiếm tỉ lệ 80%. Điện thoại thông minh không những là công cụ giao tiếp, giải trí, mà còn là một công cụ hỗ trợ việc học hiệu quả. Ở Châu Âu và Châu Á, các nhà hoạch định chính sách đã đưa ra các sáng kiến để thúc đẩy học tập trên thiết bị di động. Ví dụ chính phủ Anh đã khởi xướng các chương trình học tập di động cho giáo dục cấp tiểu học, trung học và hợp tác với các công ty viễn thông để cung cấp công nghệ di động cho sinh viên đại học. Tại các nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Bangladesh đã triển khai các dự án học tập di động quy mô lớn với chính sách tạo điều kiện sử dụng thiết bị di động trong giáo dục. Trước khi dịch bệnh Covid-19 diễn ra, các trường đại học ở Việt Nam đã quan tâm đến đào tạo E-learning từ khá sớm. Trong thời gian dịch Covid-19, khoảng 50% các trường đại học Việt Nam đã triển khai đào tạo trực tuyến với nhiều mức độ khác nhau. Nhiều trường học đang làm cho việc học trực tuyến trở nên dễ thích ứng hơn, nhiều chương trình cung cấp nền tảng của trường học trên các ứng dụng dành cho thiết bị di động trong đó đặc biệt chú trọng đến điện thoại thông minh, giúp các bài giảng trở nên thân thiện và gần gũi hơn với sinh viên.

1.1. Định nghĩa chi tiết về M Learning lợi ích học tập

M-learning là một giai đoạn mới trong sự phát triển của E-learning và đào tạo từ xa. Nó đề cập đến bất kỳ việc học nào diễn ra thông qua các thiết bị di động không dây như điện thoại thông minh, máy tính bảng, PDA,… mà các thiết bị này có thể di chuyển cùng với người học để cho phép học mọi lúc, mọi nơi (Wang và cộng sự, 2009). M-learning là một công cụ quan trọng phù hợp với phong cách học tập của thế giới hiện đại (Bidin và cộng sự, 2012). M-learning mang lại những lợi ích đáng kể để xây dựng và hỗ trợ môi trường học tập sáng tạo, hợp tác và giao tiếp (Sulaiman và cộng sự, 2018). Lợi ích của M-learning rất rõ ràng và nhiều học giả đã thảo luận về lợi ích của nó trong môi trường học tập; tương đối rẻ hơn, vì chi phí của thiết bị di động thấp hơn đáng kể so với máy tính để bàn và máy tính xách tay (Mehdipour và cộng sự, 2013). Bằng cách sử dụng công nghệ trong học tập, giúp cải thiện trình độ đọc viết, tính toán và tham gia vào giáo dục của người học, cung cấp nội dung và sáng tạo đa phương tiện, giảm chi phí đào tạo và sử dụng các tính năng liên lạc của điện thoại thông minh như một phần của hoạt động học tập (Mehdipour và cộng sự, 2013). Tính linh hoạt là yếu tố quan trọng nhất trong M-learning (Diaz và cộng sự, 2015). Người học có thể học bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào họ muốn và giữ liên lạc với giáo viên của họ và các người học liên kết khi rời khỏi lớp học (Alkhalifah, 2018).

1.2. So sánh M Learning với E Learning Điểm khác biệt

E-learning là một phân nhóm của đào tạo từ xa. M-learning là một nhóm con của E-learning (Rimale và cộng sự, 2016). Tuy nhiên, có một số khác biệt giữa E-learning và M-learning liên quan đến môi trường học tập đến phương pháp đánh giá (Korucu và Alkan, 2011). Một số khác biệt giữa E-learning và M- learning như được đề cập bên dưới (Rimale và cộng sự, 2016). E-learning sử dụng các thiết bị cố định và không dây như PC, nhưng M-learning sử dụng các thiết bị giao tiếp không dây như điện thoại thông minh và điện thoại di động, PC và PDA. Tin nhắn trao đổi E-learning thông qua MMS và SMS được sử dụng để trao đổi thông tin giữa người dùng. Các ứng dụng lưu trữ của E-learning hiệu quả hơn các ứng dụng được sử dụng trong M-learning. E-learning có mức độ bảo vệ thấp trong các kênh truyền thông nhưng M-learning cung cấp cho người dùng khả năng bảo mật cao hơn khi người học đang sử dụng thiết bị của chính họ để kết nối với người khác. Ưu điểm của M-learning làm tăng sự thuận tiện của giáo dục từ xa và cũng là một công cụ quản lý thời gian như là người học có thể tùy chọn thời điểm học cho riêng mình. Các nội dung hiển thị phải được thiết kế sao cho dễ dàng và phù hợp trên các thiết bị di động.

II. Điện thoại thông minh trong M Learning Tiềm năng Thực tế

Điện thoại thông minh không chỉ là một chiếc điện thoại di động đơn giản ở chỗ nó còn có thể gửi và nhận email, kết nối với internet và cung cấp các tính năng bổ sung như máy ảnh và dung lượng lưu trữ dữ liệu đáng kể (Pitt, Parent, Junglas, Chan, & Spyropoulou, 2011). Điện thoại thông minh cũng có thể xử lý thông tin xúc giác dưới dạng màn hình cảm ứng, được trang bị hệ thống định vị như GPS và đã tạo ra thị trường cho các ứng dụng di động có thể tải xuống (Pitt và cộng sự, 2011). Nhìn chung, điện thoại thông minh tích hợp công nghệ điện thoại di động và điện toán để người dùng có thể kiểm tra và gửi email, duyệt internet, viết tài liệu, mua sản phẩm và dịch vụ, tham gia vào các hoạt động truyền thông xã hội và nhiều hơn nữa. Smartphone được sử dụng rộng rãi để chia sẻ thông tin, học tập, giảng dạy, nghiên cứu, thanh toán tiền, mua sắm, trình duyệt truy cập internet… Các tính năng chính của điện thoại thông minh, tức là tính di động, phổ biến, nhẹ, chi phí thấp và khả năng kết nối từ bất cứ đâu và bất cứ lúc nào, nâng cao việc sử dụng chúng theo nhiều cách (Klopfer và cộng sự, 2002; BenMoussa và cộng sự, 2003; Churchill và cộng sự, 2008). Việc sử dụng điện thoại thông minh trong xã hội của chúng ta thúc đẩy các nhà nghiên cứu khám phá những cơ hội mới trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong giáo dục (Shaikh và cộng sự, 2015; Chung và cộng sự, 2015). Điện thoại thông minh ngày càng phổ biến trong sinh viên đại học, trong khi việc sử dụng chúng làm công cụ hỗ trợ học tập trong nghiên cứu của họ có tiềm năng đóng góp vào việc cung cấp giáo dục cho sinh viên trên toàn thế giới. Việc sử dụng thiết bị di động cho mục đích giáo dục có thể hỗ trợ và nâng cao quá trình học tập, mọi lúc và mọi nơi.

2.1. Đặc điểm nổi bật của Smartphone hỗ trợ M Learning

Theo Cassavoy (2012): “Điện thoại thông minh có thể được định nghĩa như là một thiết bị cho phép người sử dụng thực hiện cuộc gọi và có thể thực hiện một vài tính năng mà không thể dùng được trong quá khứ trừ khi sử dụng máy tính hay là thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân (PDA) chẳng hạn như việc gửi và nhận email, chỉnh sửa tài liệu”. Điện thoại thông minh tích hợp công nghệ điện thoại di động và điện toán để người dùng có thể kiểm tra và gửi email, duyệt internet, viết tài liệu, mua sản phẩm và dịch vụ, tham gia vào các hoạt động truyền thông xã hội và nhiều hơn nữa. Điện thoại thông minh đã cách mạng hóa cách làm việc của chúng ta và tạo thành một hiện tượng trong xã hội ngày nay.

2.2. Thách thức khi sử dụng Smartphone trong học tập trực tuyến

Theo Hà Ánh, (2020), một khảo sát nhanh về học trực tuyến thực hiện với gần 4.000 sinh viên một trường đại học tại Việt Nam, kết quả khảo sát cho thấy đa số sinh viên học trực tuyến bằng điện thoại thông minh, kết quả cũng cho thấy có tới 90% sinh viên tham gia suốt lớp học, có nhiều ý kiến cho rằng học sử dụng điện thoại thông minh học trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tiếp cận công nghệ thông tin, rèn tính chủ động trong việc học,… nhưng kết cuộc khảo sát cũng cho thấy một số hạn chế của việc học trực tuyến khi sử dụng điện thoại thông minh như : như đường truyền, tài nguyên số chưa phong phú, phương pháp giảng dạy của giảng viên chưa phù hợp với giảng dạy trực tuyến, ý thức học tập của sinh viên còn hạn chế….

2.3. Tiềm năng phát triển M Learning qua Smartphone ở Việt Nam

Việt Nam phát triển nhanh chóng về mạng internet với tốc độ đường truyền ngày càng cao và giá phí thấp. Việt Nam là quốc gia có số lượng người sử dụng internet lớn thứ 6 châu Á và thứ 12 trên thế giới với 64 triệu người vào năm 2018 (We Are Social, 2018). Vì vậy, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng phát triển đào tạo trực tuyến. Ngày nay, với sự phát triển rất mạnh mẽ của công nghệ và internet đã làm tiền đề cho sự bùng nổ và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới của thiết bị di động thông minh như: điện thoại thông minh, máy tính bảng,. Các thiết bị di động không chỉ đơn giản là một công cụ liên lạc, tìm kiếm thông tin thông thường, mà đã trở thành một phương tiện cung cấp nhiều chức năng tiện lợi cho người sử dụng như giải trí, mua sắm, học tập,.

III. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến chấp nhận Smartphone M Learning

Để hiểu được ý định của người học đối với việc chấp nhận và sử dụng điện thoại thông minh trong học tập trên hệ thống M-learning và quan trọng là phải xác định, khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng điện thoại thông minh như một công cụ hỗ trợ học tập; vì những điều này tạo thành một tiêu chí để triển khai học tập trên thiết bị di động và đặc biệt là điện thoại thông minh. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu để hiểu về M-learning và các thiết bị di động để học tập trên hệ thống M-learning. Để có một cuộc điều tra sâu rộng về các yếu tố ảnh hưởng đến việc học tập của người học trong việc sử dụng điện thoại thông minh. Nếu người học nhận thấy rằng việc học trên điện thoại thông minh có rất ít hoặc không có giá trị, họ sẽ ít có khả năng chấp nhận việc sử dụng điện thoại thông minh trong việc học trên hệ thống M- learning.

3.1. Tổng quan mô hình UTAUT2 trong nghiên cứu chấp nhận công nghệ

Một mô hình phổ biến và gần đây trong chấp nhận công nghệ thông tin là lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (The Unified Theory Of Acceptance And Use Of Technology - UTAUT). Lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) được xây dựng bởi (Venkatesh và cộng sự ,2003) để giải thích ý định hành vi và hành vi sử dụng của người dùng đối với CNTT. Trong đó TRA, TPB và TAM có ảnh hưởng nhiều nhất đến UTAUT, UTAUT được xây dựng với 4 yếu tố cốt lõi của ý định và hành vi sử dụng CNTT như : Kỳ vọng hiệu quả, Kỳ vọng nổ lực, Ảnh hương xã hội , Điều kiện thuận lợi và các biến nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính, kinh nghiệm, tự nguyện. Venkatesh và cộng sự chỉ ra rằng UTAUT có khả năng giải thích khoảng 70% phương sai trong ý định. Ngoài ra, nó có thể cung cấp một công cụ hữu ích cho các nhà quản lý để đánh giá mức độ thành công của công nghệ mới (Ibrahim và cộng sự, 2011). (Venkatesh và cộng sự, 2012) đã mở rộng lý thuyết về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT). Venkatesh và cộng sự (2012) đã xây dựng một phương pháp tiếp cận bổ sung cho mô hình ban đầu đó là mô hình UTAUT2. UTAUT2 được tích hợp thêm các yếu tố động lực thụ hưởng (Hedonic motivation – HM), giá trị giá cả (Price value – PV) và thói quen (Habit – HB) vào mô hình UTAUT gốc.

3.2. Phân tích các yếu tố thuộc mô hình UTAUT2 Kỳ vọng hiệu quả

Theo lý thuyết UTAUT, Kỳ vọng hiệu quả (Performance Expectancy - PE) là mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng một công nghệ sẽ giúp họ cải thiện hiệu suất công việc của mình. Trong bối cảnh M-learning, kỳ vọng hiệu quả đề cập đến việc người học tin rằng sử dụng điện thoại thông minh để học tập sẽ giúp họ học nhanh hơn, dễ dàng hơn, và đạt kết quả tốt hơn. Kỳ vọng hiệu quả là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến ý định sử dụng công nghệ, và có nhiều nghiên cứu đã chứng minh vai trò quan trọng của nó trong việc chấp nhận M-learning (Venkatesh và cộng sự, 2003). Nếu người học tin rằng sử dụng điện thoại thông minh sẽ giúp họ học tập hiệu quả hơn, họ sẽ có nhiều khả năng chấp nhận và sử dụng nó trong quá trình học tập.

3.3. Phân tích các yếu tố thuộc mô hình UTAUT2 Kỳ vọng nỗ lực

Kỳ vọng nỗ lực (Effort Expectancy - EE) đề cập đến mức độ dễ dàng mà người học tin rằng việc sử dụng điện thoại thông minh để học tập là dễ dàng. Nếu người học cảm thấy rằng việc sử dụng điện thoại thông minh để học tập là phức tạp và khó khăn, họ sẽ ít có khả năng chấp nhận và sử dụng nó. Kỳ vọng nỗ lực có thể bao gồm các yếu tố như giao diện người dùng thân thiện, tính dễ sử dụng của các ứng dụng học tập, và khả năng tìm kiếm thông tin một cách dễ dàng.

3.4. Phân tích các yếu tố thuộc mô hình UTAUT2 Ảnh hưởng xã hội

Ảnh hưởng xã hội (Social Influence - SI) đề cập đến mức độ mà người học cảm thấy rằng những người quan trọng đối với họ (ví dụ như bạn bè, gia đình, giáo viên) tin rằng họ nên sử dụng điện thoại thông minh để học tập. Nếu người học cảm thấy rằng những người quan trọng đối với họ khuyến khích họ sử dụng điện thoại thông minh để học tập, họ sẽ có nhiều khả năng chấp nhận và sử dụng nó. Ảnh hưởng xã hội có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định sử dụng công nghệ, đặc biệt là trong các cộng đồng học tập.

3.5. Phân tích các yếu tố thuộc mô hình UTAUT2 Điều kiện thuận lợi

Điều kiện thuận lợi (Facilitating Conditions - FC) đề cập đến mức độ mà người học tin rằng có sẵn các nguồn lực và hỗ trợ cần thiết để sử dụng điện thoại thông minh cho mục đích học tập. Điều kiện thuận lợi có thể bao gồm các yếu tố như truy cập internet ổn định, các ứng dụng học tập phù hợp, và sự hỗ trợ kỹ thuật từ nhà trường. Nếu người học tin rằng họ có đủ điều kiện thuận lợi để sử dụng điện thoại thông minh, họ sẽ có nhiều khả năng chấp nhận và sử dụng nó.

3.6. Phân tích các yếu tố thuộc mô hình UTAUT2 Động lực thụ hưởng

Động lực thụ hưởng (Hedonic Motivation - HM) đề cập đến mức độ mà người học cảm thấy rằng việc sử dụng điện thoại thông minh để học tập là thú vị và mang lại niềm vui. Nếu người học cảm thấy rằng việc học tập trên điện thoại thông minh là một trải nghiệm thú vị, họ sẽ có nhiều khả năng chấp nhận và sử dụng nó. Động lực thụ hưởng có thể được thúc đẩy bởi các yếu tố như tính tương tác của các ứng dụng học tập, khả năng cá nhân hóa trải nghiệm học tập, và khả năng kết nối với những người học khác.

3.7. Phân tích các yếu tố thuộc mô hình UTAUT2 Thói quen

Thói quen (Habit - HB) đề cập đến mức độ mà người học đã quen với việc sử dụng điện thoại thông minh trong cuộc sống hàng ngày. Nếu người học đã quen với việc sử dụng điện thoại thông minh cho các hoạt động khác, họ sẽ có nhiều khả năng chấp nhận và sử dụng nó cho mục đích học tập. Thói quen có thể giúp giảm bớt sự e ngại và tăng cường sự tự tin khi sử dụng công nghệ mới.

IV. Chất lượng dịch vụ tác động đến chấp nhận Smartphone M Learning

Trong nghiên cứu, tác giả đề xuất thêm một yếu tố bổ sung vào mô hình UTAUT2 truyền thống đó là chất lượng dịch vụ. Chất lượng của các dịch vụ được cung cấp cho người dùng có thể ảnh hưởng đến mức độ chấp nhận công nghệ mới (Xin, 2004). (Lee, 2010) chỉ ra rằng nhận thức của sinh viên về chất lượng dịch vụ hỗ trợ trực tuyến có thể được coi là yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định hành vi của họ đối với việc chấp nhận học trực tuyến. Do đó tác giả bổ sung thêm yếu tố chất lượng dịch vụ vào mô hình để khám phá mức độ của yếu tố này đến ý định hành vi sử dụng điện thoại thông minh của người học trên nền tảng M-learning.

4.1. Tầm quan trọng của Chất lượng dịch vụ trong M Learning

Chất lượng dịch vụ (Quality of Service - QS) là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá sự thành công của hệ thống M-learning. Chất lượng dịch vụ đề cập đến mức độ mà người học hài lòng với các dịch vụ hỗ trợ học tập được cung cấp thông qua điện thoại thông minh. QS bao gồm các yếu tố như khả năng truy cập dễ dàng, tốc độ phản hồi nhanh chóng, và sự hỗ trợ kỹ thuật hiệu quả. Nếu người học cảm thấy rằng chất lượng dịch vụ là tốt, họ sẽ có nhiều khả năng chấp nhận và sử dụng điện thoại thông minh để học tập.

4.2. Các thành phần cấu thành Chất lượng dịch vụ M Learning

Chất lượng dịch vụ của M-learning có thể được đo lường thông qua nhiều thành phần khác nhau, bao gồm: Tính khả dụng: Dễ dàng truy cập vào các tài liệu học tập và ứng dụng. Độ tin cậy: Hệ thống hoạt động ổn định và không gặp sự cố thường xuyên. Tính đáp ứng: Khả năng phản hồi nhanh chóng khi người học gặp vấn đề. Tính bảo mật: Đảm bảo an toàn thông tin cá nhân và dữ liệu học tập. Hỗ trợ: Cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và hướng dẫn sử dụng hiệu quả. Nội dung: Chất lượng và tính hữu ích của nội dung học tập.

4.3. Liên hệ giữa Chất lượng dịch vụ và chấp nhận Smartphone

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng đáng kể đến ý định sử dụng điện thoại thông minh trong học tập. Khi người học cảm thấy rằng hệ thống M-learning cung cấp dịch vụ chất lượng cao, họ sẽ có nhiều khả năng chấp nhận và sử dụng nó. Chất lượng dịch vụ tốt có thể giúp tăng cường sự hài lòng của người học, cải thiện hiệu quả học tập, và khuyến khích họ tiếp tục sử dụng điện thoại thông minh trong quá trình học tập.

V. Ứng dụng mô hình UTAUT2 để dự đoán ý định sử dụng

Mô hình nghiên cứu đề xuất được xây dựng trên nền tảng các nghiên cứu liên quan đến ý định hành vi và sử dụng điện thoại thông minh để học tập trên nền tảng M- của người học. UTAUT2 là một mô hình chấp nhận công nghệ thống nhất, không đề cập đến bất kỳ công nghệ cụ thể nào. Do đó, mô hình UTAUT2 cần được cải tiến để tích hợp chấp nhận công nghệ di động.

5.1. Giá trị của mô hình UTAUT2 trong bối cảnh M Learning

UTAUT2 là một mô hình mạnh mẽ để dự đoán ý định sử dụng công nghệ, và nó đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về M-learning. Mô hình này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người học khi chấp nhận và sử dụng điện thoại thông minh để học tập. Bằng cách xác định các yếu tố quan trọng nhất, chúng ta có thể thiết kế các hệ thống M-learning hiệu quả hơn và khuyến khích người học sử dụng chúng một cách tích cực.

5.2. Ưu điểm của UTAUT2 so với các mô hình chấp nhận công nghệ khác

So với các mô hình chấp nhận công nghệ khác như TAM (Technology Acceptance Model) hay TPB (Theory of Planned Behavior), UTAUT2 có nhiều ưu điểm hơn. UTAUT2 tích hợp nhiều yếu tố quan trọng hơn, bao gồm cả yếu tố xã hội, yếu tố cảm xúc, và yếu tố thói quen. Điều này giúp nó có khả năng giải thích hành vi sử dụng công nghệ một cách toàn diện hơn. UTAUT2 cũng đã được kiểm chứng trong nhiều nghiên cứu khác nhau, cho thấy tính ổn định và khả năng khái quát hóa cao.

5.3. Điều chỉnh UTAUT2 cho phù hợp với thị trường Việt Nam

Trong quá trình áp dụng mô hình UTAUT2 vào bối cảnh Việt Nam, cần xem xét các yếu tố đặc thù của thị trường này. Ví dụ, yếu tố văn hóa có thể ảnh hưởng đến ý định sử dụng công nghệ. Ngoài ra, cần xem xét đến trình độ học vấn và khả năng tiếp cận công nghệ của người học. Bằng cách điều chỉnh mô hình UTAUT2 cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam, chúng ta có thể đạt được kết quả nghiên cứu chính xác và hữu ích hơn.

VI. Kết luận và hướng nghiên cứu về Smartphone trong M Learning

Hiểu biết về chấp nhận và sử dụng điện thoại thông minh để học tập trên nền tảng M-learning của người học có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích hợp M- learning vào việc học và giảng dạy và thúc đẩy đổi mới giáo dục ở Việt Nam. Đồng thời sự hiểu biết về việc sử dụng M-learning của giáo dục đại học ở Việt Nam có thể cải thiện ứng dụng M-learning trong học tập và giảng dạy và mang lại sự thay đổi xã hội tích cực thông qua đổi mới giáo dục tích hợp công nghệ.

6.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và hàm ý quản trị thực tiễn

Việc ứng dụng các mô hình như UTAUT2 và bổ sung các yếu tố như chất lượng dịch vụ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về động lực chấp nhận M-Learning thông qua điện thoại thông minh của người học. Các kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý giáo dục và các nhà phát triển ứng dụng, giúp họ đưa ra các quyết định sáng suốt để cải thiện trải nghiệm học tập trực tuyến. Bằng cách tập trung vào các yếu tố như kỳ vọng hiệu quả, điều kiện thuận lợi, và chất lượng dịch vụ, chúng ta có thể tạo ra một môi trường học tập trực tuyến hiệu quả và hấp dẫn hơn cho người học.

6.2. Đề xuất nghiên cứu trong tương lai và các yếu tố cần xem xét

Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu về M-Learning để khám phá các khía cạnh khác nhau của việc sử dụng điện thoại thông minh trong học tập. Các nghiên cứu nên tập trung vào các yếu tố như tác động của M-Learning đến kết quả học tập, sự khác biệt giữa các nhóm người học khác nhau, và vai trò của giáo viên trong việc hỗ trợ M-Learning. Ngoài ra, cần xem xét đến các yếu tố đạo đức và bảo mật liên quan đến việc sử dụng điện thoại thông minh trong học tập.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Chương này trình bày các nội dung chính như sau: lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu đề tài.1 Lý do chọn đề tài Hình thức dạy và học trực tuyến đang được các trường đại học thúc đẩy phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của mọi đối tượng người học. Dạy và học trực tuyến là xu thế tất yếu mà các nước trên thế giới cũng như Việt Nam hướng tới. Trong thời đại 4.0 hiện nay, nhiều người có xu hướng lựa chọn học trực tuyến bởi cách học thuận tiện, linh hoạt về thời gian và địa điểm. Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục, có một xu hướng đang dần chiếm lĩnh, phổ biến trong thực tiễn giáo dục, dạy học ở các quốc gia.

Đó là học tập di động (Mobile learning) với khả năng đáp ứng các nhu cầu học tập khác nhau, cơ hội học tập mở, dạy học cá nhân hóa, cá thể hóa cao độ, khả năng tiếp cận học liệu số, không gian học tập không giới hạn, hình thành và phát triển kĩ năng số cho người học… Mobile learning (M-learning) là hình thức học qua thiết bị di động cho phép người học tham gia các khóa học, tiếp cận với các tài liệu của khóa học thông qua các thiết bị di động như điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính xách tay,…. Nội dung học tập cung cấp trên M-learning có thể xây dựng nội dung đa dạng từ văn bản, âm thanh, hình ảnh, video và các nội dung khác. Giáo dục dựa trên công nghệ di động được gọi là M-learning được mô tả là học tập thông qua công nghệ di động (Christensen & Knezek, 2018). Theo thống kê của Golbal Market Insignts thì quy mô thị trường Mobile learning đã vượt mốc 20 tỷ USD vào năm 2019 và sẵn sàng tăng trưởng với tốc độ 13% từ năm 2020 đến năm 2026.

Sự tăng trưởng của thị trường là do sự thâm nhập cao của các thiết bị di động trên toàn cầu và sự sẵn có của một loạt các thiết bị di động hiệu quả về chi phí. Đại dịch Covid-19 đang diễn ra sẽ thúc đẩy đáng kể nhu cầu về các giải pháp học tập di động. Việc tăng sở hữu điện thoại thông minh ở một số nền kinh tế phát triển và đang phát triển sẽ thúc đẩy việc mở rộng thị trường học tập trên thiết bị di động trên toàn cầu. Ở các nước đang phát triển, công nghệ di động đã được áp dụng với tỷ lệ cao hơn so với máy tính cá nhân, có lẽ vì máy tính bảng và điện thoại thông minh có giá cả 2 phải chăng hơn và dễ sử dụng hơn (Zambrano và cộng sự, 2012).

Việt Nam phát triển nhanh chóng về mạng internet với tốc độ đường truyền ngày càng cao và giá phí thấp. Việt Nam là quốc gia có số lượng người sử dụng internet lớn thứ 6 châu Á và thứ 12 trên thế giới với 64 triệu người vào năm 2018 (We Are Social, 2018). Vì vậy, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng phát triển đào tạo trực tuyến. Ngày nay, với sự phát triển rất mạnh mẽ của công nghệ và internet đã làm tiền đề cho sự bùng nổ và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới của thiết bị di động thông minh như: điện thoại thông minh, máy tính bảng,.

Các thiết bị di động không chỉ đơn giản là một công cụ liên lạc, tìm kiếm thông tin thông thường, mà đã trở thành một phương tiện cung cấp nhiều chức năng tiện lợi cho người sử dụng như giải trí, mua sắm, học tập,. Hình 1 Số lượng người di2ng Smartphone của nước/Thị trường đứng đầu thế giới năm 2019 (nguồn www.com) Theo báo cáo số lượng người dùng điện thoại thông minh năm 2019 của Adsota năm 2019 thì Việt Nam thuộc top 15 quốc gia có số người dùng điện thoại thông minh cao nhất thế giới với 43,7 triệu người dùng, tương đương với 44,9% tổng dân số, đã chứng minh điện thoại thông minh là điểm chạm quan trọng giữa thương hiệu và người dùng. Sinh viên là nhóm nhân khẩu học lớn nhất về người dùng thiết bị di động, trong 3 khi điện thoại di động /điện thoại thông minh được báo cáo là thiết bị di động được sử dụng thường xuyên nhất (Crompton & Burke, 2018; Lavidas và cộng sự, 2019). Hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, điện thoại thông minh là công cụ hỗ trợ học tập không thể thiếu của sinh viên.

Theo kết quả khảo sát Đỗ Văn Hùng và cộng sự (2014) về tình hình sử dụng thiết bị di động của sinh viên tại Việt Nam, kết quả cho thấy có 50% sinh viên sở hữu một chiếc điện thoại thông minh và mục đích sử dụng các thiết bị di động đó thì kết quả khảo sát cho thấy mục đích sử dụng các thiết bị di động trong học tập được sinh viên chú trọng với tỉ lệ là 80%. Điện thoại thông minh không những là công cụ/thiết bị được sinh viên sử dụng cho mục đích giao tiếp, giải trí, thể hiện giá trị bản thân mà còn là một công cụ hỗ trợ việc học hiệu quả. việc sử dụng điện thoại thông minh một cách hợp lý sẽ giúp cho kết quả học tập của sinh viên đạt kết quả tốt hơn. Ở Châu Âu như các nước Anh, Đan Mạch, Hà Lan, Nga,., các nhà hoạch định chính sách đã đưa ra một số sáng kiến để thúc đẩy việc học tập trên thiết bị di động.

Ví dụ chính phủ Anh đã khởi xướng các chương trình học tập di động cho giáo dục cấp tiểu học, trung học và hợp tác với các công ty viễn thông để cung cấp công nghệ di động cho sinh viên đại học. Tại các nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Bangladesh đã triển khai các dự án học tập di động quy mô lớn với chính sách tạo điều kiện sử dụng thiết bị di động trong giáo dục, đơn cử ở Hàn Quốc đã tích hợp các thiết bị di động vào môi trường học đường hàng ngày nhằm chuẩn bị cho học sinh, sinh viên môi trường học tập trong tương lai. Trước khi dịch bệnh Covid-19 diễn ra, các trường đại học ở Việt Nam đã quan tâm đến đào tạo E-learning từ khá sớm, mặc dù vậy E-learning được sử dụng dưới hình thức hỗ trợ hoặc kết hợp cho việc học truyền thống trên lớp. Các trường đã triển khai chương trình này như Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Đà Nẵng, Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên… chủ yếu mang tính chất thí điểm và đào tạo trực tuyến trên thiết bị di động (M-learning) vẫn còn là điều mới mẽ (Tâm, N., 2017; Linh và nhóm đồng tác giả, 2017; Thái, V.

Trong những năm gần đây đã có một số trường đại học đã nhìn thấy tiềm năng trong đào tạo trực tuyến đặc biệt trên thiết bị di động đã đầu tư xây dựng hệ thống giảng dạy trực tuyến hiện đại có thể liệt kê các trường như sau: Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh với các hệ thống học trực tuyến đào tạo trực tuyến 4 http://elolms.vn, đào tạo chính quy: https://lms.vn/ và thời gian vừa qua, trường đã ra mắt hệ thống học trực tuyến miễn phí: Hệ thống VMOOCs trên nền tảng MOOCs, nhằm cung cấp giải pháp học tập trực tuyến, thoả khát vọng nâng cao tri thức mọi lúc, mọi nơi. Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh với hệ thống đào tạo trực tuyến UTEX (https://utexlms.vn/) được đầu tư hiện đại và bài bản,.Trong thời gian dịch Covid-19, khoảng 50% các trường đại học Việt Nam đã triển khai đào tạo trực tuyến với nhiều mức độ khác nhau nhằm hạn chế gián đoạn chương trình.

Người học sử dụng các ứng dụng trực tuyến khác nhau từ nỗ lực tự thân của các cơ sở giáo dục và sự đồng hành với trách nhiệm xã hội cao của các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến trong và ngoài nước. Nhiều trường học đang làm cho việc học trực tuyến trở nên dễ thích ứng hơn, nhiều chương trình cung cấp nền tảng của trường học trên các ứng dụng dành cho thiết bị di động trong đó đặc biệt chú trọng đến điện thoại thông minh, giúp các bài giảng trở nên thân thiện và gần gũi hơn với sinh viên. Theo Hà Ánh, (2020), một khảo sát nhanh về học trực tuyến thực hiện với gần 4.000 sinh viên một trường đại học tại Việt Nam, kết quả khảo sát cho thấy đa số sinh viên học trực tuyến bằng điện thoại thông minh, kết quả cũng cho thấy có tới 90% sinh viên tham gia suốt lớp học, có nhiều ý kiến cho rằng học sử dụng điện thoại thông minh học trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tiếp cận công nghệ thông tin, rèn tính chủ động trong việc học,… nhưng kết cuộc khảo sát cũng cho thấy một số hạn chế của việc học trực tuyến khi sử dụng điện thoại thông minh như : như đường truyền, tài nguyên số chưa phong phú, phương pháp giảng dạy của giảng viên chưa phù hợp với giảng dạy trực tuyến, ý thức học tập của sinh viên còn hạn chế…. Để hiểu được ý định của người học đối với việc chấp nhận và sử dụng điện thoại thông minh trong học tập trên hệ thống M-learning và quan trọng là phải xác định, khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng điện thoại thông minh như một công cụ hỗ trợ học tập; vì những điều này tạo thành một tiêu chí để triển khai học tập trên thiết bị di động và đặc biệt là điện thoại thông minh.

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu để hiểu về M-learning và các thiết bị di động để học tập trên hệ thống M-learning nhưng tại Việt Nam mặc dù cũng có một vài nghiên cứu về M-learning như nghiên cứu của Murphy và cộng sự, (2014) về xu hướng học tập trên thiết bị di động của sinh viên tại Việt Nam đã chỉ ra rằng M-learning có vai trò rõ ràng trong việc hỗ trợ học tập của 5 người học. Nghiên cứu của Trịnh Thị Phương Thảo, (2013) về khai thác M-learning trong đào tạo tín chỉ cho rằng điều kiện của Việt Nam hiện nay hoàn toàn cho phép ta bắt tay vào nghiên cứu và triển khai M-learning trong đào tạo tín chỉ,…các nghiên cứu mới chỉ dừng ở mức khám phá, chưa nghiên cứu kỹ lưỡng về các yếu tố ảnh hưởng đến với sử dụng thiết bị động đặc biệt là điện thoại thông minh trong học tập trên nền tảng M-learning. Do đó, cần có một cuộc điều tra sâu rộng về các yếu tố ảnh hưởng đến việc học tập của người học trong việc sử dụng điện thoại thông minh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ