phần Mở đầu; phần Kết luận; phần Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục ; Luận văn của chúng tôi gồm có ba chƣơng: Chƣơng 1 : Giới thuyết khái niệm và phạm vi tƣ liệu Chƣơng 2 : Mô tả và phân loại điển cố, điển tích trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt Chƣơng 3 : Tác dụng và hạn chế của việc sử dụng điển cố, điển tích trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM VÀ PHẠM VI TƢ LIỆU 1. 1 Giới thuyết khái niệm về điển cố điển tích Có rất nhiều nhà nghiên cứu văn học, nghiên cứu ngôn ngữ học đã đƣa ra các định nghĩa của mình nhằm xác định khái niệm thuật ngữ “điển cố, điển tích”: 1.1 Định nghĩa về điển cố - Nguyễn Văn Chiến trong Luận văn của mình cho rằng: “Điển cố”: “chiết tự là sự kiện trong sách Kinh điển đƣợc ngƣời đời dùng bám theo và câu chuyện, sự việc đời xƣa. Điển cố hàm chứa những câu chuyện dài mà nếu kể ra thì phải tốn khá nhiều giấy mực, thì giờ, song sự cô đọng, súc tích của điển cố đã khiến sự liên tƣởng và kí ức của ngƣời đọc, ngƣời nghe thông qua hoạt động và thấu hiểu đƣợc nhiều lẽ mang ý nghĩa văn chƣơng và triết lý” [7, tr. - Lê Huy Tiêu không tách bạch điển cố ra mà gọi đó là thành ngữ điển cố khi coi đó là loại thành ngữ có cốt truyện thƣờng có xuất xứ từ truyện lịch sử, cổ tích, ngụ ngôn hay văn thơ của các tác giả nổi tiếng.
Ông cho rằng vì vậy đọc điển cố trở nên lí thú và hấp dẫn. Lời tựa nhà xuất bản trong cuốn Từ điển thành ngữ điển cố Trung Quốc của ông là xác đáng khi nhận xét: “Khi đọc một văn bản Hán văn, ngƣời ta thƣờng gặp không ít thành ngữ, thành ngữ vốn đã súc tích mà thành ngữ điển cố càng súc tích hơn và đƣợc viết bằng cổ văn rất khó hiểu” [44, tr. Định nghĩa của Lê Huy Tiêu coi điển cố là thành ngữ có lẽ do hầu hết các đơn vị điển cố Trung Quốc của ông sƣu tập và tƣờng 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giải đều có hình thức của một đơn vị thành ngữ. Ví dụ: “Khô mộc phùng xuân” (Cây khô gặp mùa xuân), “Bạch bích vi hà” (Ngọc trắng có tì vết).
Qủa thực những điển cố này không khác những thành ngữ gốc Hán khác về mặt hình thức : “Dƣơng chất hổ bì” (Mình dê da cọp), “Thuỷ trích thạch xuyên” (Nƣớc chảy đá mòn) -Trác Hiên Triệu Hữu Lập viết : Mấy lời của ngƣời hiệu đính in trong sách Từ điển văn liệu của Long Điền Nguyễn Văn Minh có đề cập đến định nghĩa điển cố : “Ngƣời ta làm văn tất cũng phải có văn liệu, nghĩa là phải dùng chữ, dùng điển ở trong Tứ Thƣ, Ngũ Kinh, Chƣ sử, các chuyện để phụ diễn ra thành văn thì lời văn mới hay mới đẹp, lời nói châu ngọc hàng hàng gấm thêu” [27, tr. Khi làm sách này, tác giả và ngƣời phụ giúp ấn loát đều nhận thấy một tình trạng Hán học bị suy sút khi Quốc ngữ phát triển, song vốn học của cha ông cần đƣợc giữ gìn và phát huy nên cần có những sách kê biên khảo cứu nhƣ từ điển, chuyên luận về điển cố, điển tích. Trong cách hiểu về văn liệu ở đây có hai yếu tố là “chữ” và “điển” tức là điển cố và điển tích. Đặc trƣng của “chữ” và “điển” là sẵn có vì đƣợc trích dẫn từ các sách xƣa, từ truyện, từ sử để dùng trong thơ văn.
- Cũng là một loại từ điển văn liệu, nhƣng cuốn Ngữ liệu văn học của Đặng Đức Siêu có lời giải thích cụ thể hơn. Khi tác giả coi ngữ liệu ở đây bao gồm từ điển cố, từ ngữ, thành ngữ, nhân danh, danh ngôn vốn mang ý nghĩa biểu trƣng cho tới các từ ngữ, từ cổ rút ra từ ca dao ngạn ngữ đƣợc các tác giả thơ văn Việt Nam xƣa kia dẫn trong tác phẩm dƣới hình thức điển cố từ viện dẫn. Đồng thời trong sách còn có một số từ ngữ, điển cố Phật giáo. Một ý kiến trong phần “Lời nói đầu” có thể coi là một phần trong định nghĩa về điển cố : “Nhiều từ trong các tác phẩm văn học nổi tiếng đã trở thành những ngữ liệu quan trọng, góp phần làm phong phú thêm hệ thống ngôn ngữ văn học trong tiếng Việt thời Trung đại, đƣợc vận dụng linh hoạt và định hình trong 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các tác phẩm văn thơ Hán Nôm tiêu biểu, một phần không nhỏ cũng đã trở nên thông dụng trong lời nói hàng ngày” [40, tr.
Nhƣ vậy một tính chất quan trọng của điển cố, điển tích là nguồn gốc từ các tác phẩm nổi tiếng của văn và thơ và các từ ngữ đó đã đƣợc định hình, có tính chất cố định trong sử dụng ở sáng tác của các tác giả Việt Nam. - Nguyễn Ngọc San trong cuốn Từ điển điển cố văn học trong nhà trƣờng đã đƣa ra một định nghĩa khá bao quát về điển cố : “Điển cố là viết gọn chuyện cũ ngƣời xƣa” [ 36, tr.23 ] thành đôi ba chữ để đƣa vào văn chƣơng làm cho câu văn hàm súc ngắn gọn, lời ít ý nhiều. Do quan điểm thẩm mĩ của ngƣời xƣa là chuộng “tập cổ” (ƣa bắt chƣớc ngƣời xƣa), câu văn càng cổ, càng dẫn nhiều chuyện cổ, câu nói cổ của thánh hiền thì càng hay càng mang tính chất mẫu mực nên văn chƣơng xƣa thƣờng dùng nhiều điển cố ở đủ các thể loại: thơ, phú, truyện kí, biền văn, văn xuôi… Nhƣng nói chung, nó đƣợc sử dụng nhiều nhất ở câu văn đối ngẫu vì văn đối ngẫu bị gò ép ở số lƣợng âm tiết nên thƣờng đƣợc khắc phục bằng cách sử dụng điển cố. Ví dụ trong phú đời Hán số lƣợng điển cố thƣờng có một tỉ lệ rất cao.
Do xu hƣớng chuộng cổ bắt chƣớc ngƣời xƣa vốn là truyền thống của văn chƣơng xƣa kia nên điển cố ngày càng đƣợc vận dụng rộng rãi đến mức không thuộc điển cố ngƣời đọc nhiều khi không hiểu đƣợc ý nghĩa của câu thơ văn cổ. Nguồn khai thác điển cố chủ yếu là các sự tích thời Xuân Thu Chiến Quốc đƣợc ghi chép trong các trƣớc tác Tiên Tần và văn thơ đời Đƣờng, Tống, ngoài ra còn có thể kể đến Kinh sử hay thƣ tịch nổi tiếng các đời khác. Khi các từ ngữ này trở thành điển cố và đƣợc đƣa vào sáng tác với cấp độ ý nghĩa thứ hai, tức là cấp độ biểu trƣng để thay thế cho một sự tích, một câu nói, một tứ thơ thì nó đƣợc gọt giũa thêm để trở nên hàm súc hơn, ý tại ngôn ngoại, tức là cố gắng chuyển tải đƣợc một nội dung lớn hơn nhiều so với sức hàm chứa của bản thân từ ngữ. Điển cố thì ngƣợc lại, bao giờ nó cũng bao hàm 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hai cấp độ nghĩa: Tính lịch sử cụ thể và tính biểu trƣng hay giá trị phong cách học.
- Đinh Gia Khánh cũng phần nào định nghĩa điển cố khi ông giải thích cách thức lựa chọn các đơn vị mục từ trong cuốn Điển cố văn học xuất bản năm 1977. Ông cho biết các điển cố trong sách là thông dụng để xây dựng hình tƣợng trong văn học cổ, chúng bao gồm các sự tích nhƣ “gác vàng”, “Chƣơng Đài”…, những nhân vật nhƣ Di Tề, Tô Tần…, những thành ngữ nhƣ “Quạt nồng ấp lạnh”, “Sửa dép vƣờn dƣa”… Bên cạnh đó còn một số từ ngữ Hán học nhƣ “Ngũ giới”, “lục cục” , “hoa đàm”…vv [19, tr.8] Từ điển này thu thập các đơn vị điển cố Hán học sử dụng trong văn thơ Nôm, một số dùng trong văn học viết bằng chữ Hán thời xƣa, cũng nhƣ trong văn học dân gian. Tuy chƣa có định nghĩa cô đọng nhƣng qua giải thích cũng thấy rõ quan niệm về điển cố là gồm các điển tích (sự tích), danh nhân, các đơn vị có hình thức giống thành ngữ. Do khuôn lại trên cơ sở cách hiểu nhƣ trên nên nhiều đơn vị điển cố khác không đƣợc đƣa vào từ điển.
- Hai tác giả Nguyễn Thạch Giang và Lữ Huy Nguyên khi đƣa ra các nhận xét về thƣ tịch Hán Nôm đƣợc dùng để biên soạn cuốn Từ điển cố văn học xuất bản năm 1999 có đề cập đến diện mạo của điển cố trong nhận xét rằng: Mọi mặt sinh hoạt của dân chúng đƣợc bộc lộ “bằng cách mƣợn những điển cố điển tích, những chữ sách và những từ Hán lấy trong các thƣ tịch cổ Trung Quốc… Nói chung, những điển, những chữ sách này đều đƣợc rút ra từ truyện một số nhân vật, một số sự kiện nhất định đƣợc ghi lại trong nhiều sách khác nhau [11, tr. Ở đây dùng ba thuật ngữ “điển” và “chữ sách”, “từ Hán” để bao quát khái niệm điển cố. Đây thực sự là một từ điển văn liệu quý giá tuy nhiều đơn vị điển cố thông dụng đã thiếu vắng. - Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cƣờng, viết trong Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX : "Điển cố: Thuật ngữ của giới 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu nhằm mô tả một trong những đặc điểm nổi bật của văn học trung đại Việt Nam, vốn chịu ảnh hƣởng văn học cổ và trung đại Trung Hoa.
Do những nguyên nhân khác nhau, đã hình thành một tâm thế, một phong cách của những ngƣời làm văn: trong hành văn thƣờng hay nhắc đến một sự tích xƣa hoặc một vài câu thơ, câu văn cổ để diễn tả ý mình, nhƣng đây không phải là trích dẫn nguyên văn, mà là lối dùng lại vài chữ cốt gợi nhớ đƣợc đến tích cũ ấy, câu văn cổ ấy. Lối này đƣợc gọi chung là dùng điển cố, bao gồm phép dùng điển và dùng chữ" [4, tr. Thực tế là khái niệm "văn" trong các nền văn hoá chịu ảnh hƣởng của Trung Quốc rộng hơn nhiều so với khác niệm "văn học" trong các nền văn hoá phƣơng Tây. Vì lẽ đó, nếu trong luận văn này chúng tôi dùng thuật ngữ "điển cố, điển tích " thì cũng xin đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn này.
- Dƣơng Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, chƣơng viết về điển cố đã định nghĩa: “Điển (nghĩa đen là việc cũ) là một chữ hoặc một câu có ám chỉ một việc cũ, một tích xƣa khiến cho ngƣời đọc sách phải nhớ đến việc ấy mới hiểu ý nghĩa và cái lý thú của câu văn. Dùng điển chữ nho gọi là dụng điển hoặc sử sự, nghĩa đen là khiến việc, ý nói sai khiến việc đời xƣa cho nó có thể ứng dụng vào bài văn của mình” [57].