CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT VÀ PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số vấn đề lý luận chung về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của các ngân hàng thương mại Dưới góc độ kinh tế, theo một số công trình nghiên cứu thì TTKDTM được hiểu như sau: “Thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức thanh toán hàng hóa dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà vẫn được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.”[5] “Thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức thanh toán thông qua các phương tiện khác không phải tiền mặt như tài sản, chứng chỉ có giá trị tương đương. Nghĩa là người tiêu dùng có thể sử dụng các giấy tờ có giá, tài sản hữu hình (không phải vàng, bạc) hoặc sử dụng công cụ để thanh toán, nhưng chủ yếu thông qua các tổ chức tín dụng thay vì người tiêu dùng và người bán trực tiếp trao đổi với nhau hiện nay.
Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là dịch vụ thanh toán) bao gồm dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán và một số dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng.” 9 Từ các khái niệm trên, có thể thấy TTKDTM được hiểu là hình thức thanh toán thông qua các phương tiện khác không phải tiền mặt như tài sản, chứng chỉ có giá trị tương đương. Nghĩa là người tiêu dùng có thể sử dụng các giấy tờ có giá, tài sản hữu hình (không phải vàng, bạc) hoặc sử dụng công cụ để thanh toán, nhưng chủ yếu thông qua các TCTD thay vì người tiêu dùng và người bán trực tiếp trao đổi với nhau. Bản chất của hình thức TTKDTM chính là hạn chế lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế, giảm thiểu chi phí xã hội. Hoạt động này sẽ trực tiếp làm giảm số lượng tiền mặt đang được lưu hành trên thị trường hàng hóa bằng cách khuyến khích từng người tiêu dùng TTKDTM.
Họ có thể sử dụng các dịch vụ thu, chi, thẻ ngân hàng, thanh toán trực tuyến mà không làm thay đổi giá trị tiền mặt tương đương. Có sự xuất hiện của tiền mặt hay không chính là sự khác biệt lớn nhất giữa hai hình thức thanh toán bằng tiền mặt và không dùng tiền mặt. Như vậy, TTKDTM của các NHTM có thể hiểu một cách đơn giản là một DVTT không có sự xuất hiện của tiền mặt mà việc thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người được trả hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của NHTM. Có thể thấy, dịch vụ TTKDTM của các NHTM mang tất cả đặc điểm của hoạt động TTKDTM với những đặc điểm sau: Thứ nhất, dịch vụ TTKDTM của các NHTM có đặc điểm cơ bản nhất, đó là không có đồng tiền hiện hữu mà chỉ có đồng tiền hạch toán hoặc đồng tiền bút toán - loại tiền ghi trên, sổ sách, chứng từ kế toán của hệ thống NHTM.
Việc thanh toán được thực hiện bằng cách trích tiền từ tài khoản của người trả tiền vào tài chính của người thụ hưởng của ngân hàng. Vì vậy, các đối tượng tham gia dịch vụ này cần phải mở TKTT riêng cho mình tại ngân hàng. 10 Thứ hai, đó là sự tồn tại sự vận động độc lập tương đối giữa hàng hóa và tiền tệ trong dịch vụ TTKDTM của NHTM. Sự độc lập tương đối này phản ánh ở cả mặt không gian và thời gian.
Thứ ba, chứng từ sử dụng trong thanh toán có thể là chứng từ giấy hoặc chứng từ điện tử. Chứng từ giấy là chứng từ thanh toán được thể hiện trên giấy. Chứng từ điện tử là chứng từ thanh toán được thể hiện bằng những dữ liệu thông tin trên vật mang tin (như thẻ thanh toán, băng từ, đĩa từ, dữ liệu qua các chương trình thanh toán điện tử. Thứ tư, dịch vụ TTKDTM của NHTM chỉ có thể diễn ra khi có sự tham gia của TGTT là hệ thống NHTM.
Dịch vụ này về cơ bản có sự tham gia của ba bên, bao gồm: người trả tiền, người thụ hưởng (tức người nhận tiền) và TGTT. Người trả tiền đóng một vai trò quan trọng trong việc sử dụng dịch vụ TTKDTM. Người trả tiền có nghĩa vụ thanh toán đúng số tiền và thực hiện các thủ tục cần thiết. Người thụ hưởng là người được nhận một khoản tiền mà người trả tiền yêu cầu hoặc do hai bên thỏa thuận.
Người thụ hưởng có trách nhiệm kiểm tra kỹ chứng từ trong quá trình thanh toán. TGTT ở đây là NHTM cung cấp DVTT cho người trả tiền, người thụ hưởng và có quyền thu phí DVTT. Trách nhiệm của NHTM là hướng dẫn khách hàng hoàn thiện thủ tục thanh toán, theo dõi khả năng thanh toán, hạch toán kế toán theo quy định và thanh toán kịp thời, chính xác, đảm bảo an toàn tài sản của khách hàng. Phân loại các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng thương mại cung cấp Thông qua rà soát, khảo sát tình hình thực tiễn và đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành, các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng thương mại cung cấp bao gồm: 1.
Thanh toán bằng thẻ Dưới góc độ kinh tế: “Thẻ thanh toán là một loại công cụ thanh toán hiện đại do ngân hàng phát hành và bán cho các tổ chức, cá nhân để họ sử dụng 11 trong thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ. hoặc rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hay tại các quầy trả tiền tự động ATM.”[5] Dưới góc độ pháp luật: Theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 03/VBHN-NHNN ban hành ngày 17/01/2021 Quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (sau đây gọi là Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-NHNN) thì “Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thực theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận” Theo các tiêu chí khác nhau, do đó thẻ cũng cũng được phân loại theo các nhóm khác nhau: - Căn cứ vào phạm vi sử dụng thẻ, thẻ được phân thành hai loại: + Thẻ nội địa: Là thẻ giới hạn ở một quốc gia/khu vực, do đó đồng tiền giao dịch phải là đồng nội tệ của quốc gia/khu vực đó. + Thẻ quốc tế: Là loại thẻ không chỉ được sử dụng trong nước phát hành mà còn có thể sử dụng trên toàn thế giới. Để có thể phát hành loại thẻ này, ngân hàng phát hành phải là thành viên của một Tổ chức thẻ quốc tế.
- Căn cứ vào tính chất vật lý của thẻ, có hai loại: + Thẻ vật lý là loại thẻ thường được làm bằng chất liệu nhựa, có gắn các dải từ tính hoặc chip điện từ để lưu trữ dữ liệu. + Thẻ phi vật lý là loại thẻ phi vật chất, tuy nhiên nó chứa đựng các thông tin quy định tại Điều 12 Văn bản hợp nhất 03/VBHN-NHNN. Khi chủ thẻ yêu cầu, tổ chức phát hành thẻ có thể in ra thẻ phi vật lý. - Căn cứ vào nguồn tài chính, thẻ được phân thành ba loại: + Thẻ ghi nợ (debit card): thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền và hạn mức thấu chi nếu có (Chủ thẻ được tổ chức phát hành thẻ cho phép chi vượt quá số tiền trên TKTT của mình một số dư nhất định) trên TKTT của chủ thẻ mở tại tổ chức phát hành thẻ.
12 + Thẻ tín dụng (credit card): Căn cứ vào khả năng tài chính, tài sản đảm bảo và uy tín của chủ thẻ mà tổ chức phát hành thẻ cấp một hạn mức tín dụng nhất định cho chủ thẻ. Loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ. + Thẻ trả trước (prepaid card): đây là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện các giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền nạp vào thẻ tương ứng với số tiền trả trước của ngân hàng phát hành thẻ. Thanh toán bằng thẻ có một ưu điểm vượt trội so với thanh toán tiền mặt về độ an toàn, bảo mật, chẳng hạn như việc chủ thẻ có thể bị mất thẻ chưa chắc đã mất tiền nếu thao tác nhanh để có thể khóa thẻ ngay sau đó.
Cùng với đó là sự tiện lợi, dễ dàng trong thanh toán bởi hiện nay thẻ được chấp nhận tại hầu hết ở các điểm cung cấp hàng hóa, dịch vụ đặc biệt là ở các thành phố lớn. Thanh toán bằng thẻ là công cụ đắc lực hỗ trợ chủ thẻ trong việc quản lý chi tiêu, hạn chế tình trạng mất cắp tiền, tiền giả hay những rủi ro khác liên quan tới thanh toán bằng tiền mặt. Với nhiều ưu điểm, tiện dụng như vậy nhưng thanh toán thẻ cũng mang trong mình những hạn chế, cụ thể là rủi ro về an toàn, bảo mật thông tin thẻ. Ngoài ra, thanh toán thẻ còn rất hạn chế ở các vùng nông thôn, miền núi khi mà mạng lưới, hạ tầng công nghệ phục vụ cho hình thức thanh toán này chưa phát triển, thói quen sử dụng thẻ của người dân còn chưa phổ biến.
Thanh toán bằng séc Dưới góc độ kinh tế: “Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản (người ký phát), ra lệnh cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình để trả cho người có tên trong séc, hoặc trả theo lệnh của người ấy hoặc trả cho người cầm séc một số tiền nhất định, bằng tiền mặt hay bằng chuyển khoản.”[2] Dưới góc độ pháp luật: Theo Khoản 4 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005 thì “Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng DVTT được phép của NHNN Việt Nam 13 trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng”. Séc có các loại khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại của chúng. - Phân loại theo tính chất chuyển nhượng, séc bao gồm các loại sau: + Séc ghi danh: Trên séc ghi rõ tên, địa chỉ người hưởng lợi. + Séc vô danh: Đây là loại séc không có tên người hưởng lợi, vì vậy mọi người cầm tấm séc này đều được coi là người thụ hưởng séc.