Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI THÂN CHỦ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1. Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của Người tạm trú bị bạo lực gia đình. Khái niệm người tạm trú và người tạm trú bị bạo lực gia đình 1.1 Người tạm trú là gì? Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật cư trú. Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.
Vậy: Người tạm trú là những người sinh sống tại 1 khu vực trong khoảng thời gian nhất định và có đăng ký tạm trú theo thủ tục mà pháp luật Việt Nam quy định Người tạm trú bị bạo lực gia đình tại Ngôi nhà Bình yên: là những người bị bạo lực bởi các thành viên trong gia đình, bị mất an toàn hoặc gây nguy hiểm đến tính mạng, phải đến tạm lánh tại Ngôi nhà Bình yên trong khoảng thời gian nhất định (Tối thiểu là 3 tháng) và có đăng ký với chính quyền tại địa chỉ có Ngôi nhà Bình Yên Khái niệm bạo lực Từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, gia đình được chia thành nhiều dạng thức: gia đình hiện đại và gia đình truyền thống; gia đình hạt nhân và gia đình đa thế hệ; gia đình khuyết thiếu và gia đình đầy đủ… Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là "sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ". Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên thực tế bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung. Các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, với trẻ em… 1.2 Bạo lực gia đình là gì? + Theo Luật Phòng chống BLGĐ thì: “BLGĐ là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình [Luật Phòng chống BLGĐ điều 1 mục 2]. + Theo Liên Hiệp Quốc đã thông qua bản Tuyên ngôn về Xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ thì: 9 Bạo lực đối với phụ nữ là “Bất kì một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình dục, tâm lý hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư”.
[24] + Theo Quĩ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA): “Bạo lực trên cơ sở giới là bạo lực giữa nam giới và phụ nữ trong đó phụ nữ thường là nạn nhân. Điều này bắt nguồn từ các mối quan hệ quyền lợi bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ. Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm những tổn hại về thân thể, tình dục và tâm lý (bao gồm cả sự đe dọa, gây đau khổ, cưỡng bức, hoặc tước đoạt sự tự do xảy ra trong gia đình hoặc trong cộng đồng), nhưng nó không hạn chế chỉ ở những dạng này. Các hành vi bạo lực gia đình Theo Luật Phòng chống BLGĐ ở điều 1 khoản 2 qui định BLGĐ gồm 9 nhóm hành vi: + Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe và tính mạng.
+ Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự nhân phẩm + Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng. + Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con cái; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau. + Cưỡng ép quan hệ tình dục. + Cưỡng ép tảo hôn, kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
+ Chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình. + Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng lao động của họ, kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình. + Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở. Theo đó, các loại hành vi kể trên có thể chia thành hai nhóm chính gồm: hành vi BLGĐ về thể chất và hành vi BLGĐ về tinh thần: * Hành vi BLGĐ về thể chất [24]: 10 - Dùng chân, tay để tát, đấm, đá, đạp, kéo tóc, bóp cổ.
- Dùng dây để trói. - Dùng gậy, gộc để đánh. - Dùng hung khí như dao, kéo, thanh sắt để đâm, chém. - Dùng đồ vật ném vào người.
- Dùng than, vôi bột, ớt bộ… để hun khói cho ngạt thở. - Và nhiều hành vi tương tự khác * Hành vi BLGĐ về tinh thần [24] - Dùng lời nói chửi bới, mắng nhiếc, đay nghiến nhằm hạ thấp hay xúc phạm nhân phẩm. - Có lời nói hay hành vi đe dọa, tống tiền, tống tình. - Kiểm soát quan hệ xã hội, ngăn cản hoặc cấm không cho tự do giao tiếp xã hội, giam lỏng trong nhà.
- Cố ý gây áp lực làm đối phương căng thẳng và phải chấp nhận điều gì đó mà họ không muốn. - Không cho hoặc dọa không cho gặp mặt, nuôi dưỡng con cái. - Dùng lời nói hay hành động ngăn cản, đe dọa không cho ly hôn. Như vậy: Hành vi BLGĐ được thể hiện rất đa dạng.
Tuy nhiên, trên thực tế “nó thường được che giấu hay ngấm ngầm tha thứ” (Phát biểu của Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc tại chiến dịch toàn cầu “Nói không với bạo hành phụ nữ” năm 2008). Để có thể giúp mọi người nhận ra được hành vi BLGĐ và cùng nhau lên tiếng một cách đanh thép, dõng dạc ở cấp cao nhất rằng bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em ở bất kì hình thức nào, vào bất kì tình huống nào và trong bất kì hoàn cảnh nào đều không thể dung tha thì giải pháp chính là “Làm thay đổi thái độ, quan niệm của xã hội đối với hành vi BLGĐ để hành vi đó không còn được coi là bình thường hay có thể chấp nhận trong cuộc sống gia đình như vẫn thường diễn ra từ trước đến nay” [Phát biểu của Bà Maniza Zaman – Phó đại diện Unicef tại Việt Nam năm 2008 1. Nguyên nhân bạo lực gia đình Những yếu tố như rượu, ma tuý, cờ bạc, nghèo đói,… thường được xem là yếu tố châm ngòi. Đây lại không phải là nguyên nhân gốc rễ của những hành vi bạo lực.
Mọi tầng lớp trong xã hội, trình độ văn hóa và bất kể giàu nghèo, tôn giáo, dân tộc, giới tính, thành thị hay nông thôn đều có thể trở thành người sử dụng hành vi bạo lực hoặc người bị bạo lực. 11 Nạn nhân của bạo lực gia đình gồm cả nam và nữ, nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn đề cập tới nạn nhân là phụ nữ vì 95% các trường hợp là phụ nữ bị bạo lực. Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng nghèo đói, học thức, hay các chất kích thích như bia, rượu, ma túy,.không phải là nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình. Nguyên nhân tiềm ẩn sâu xa xuất phát chính từ mối quan hệ bất bình đẳng về giới, về quyền lực đã tồn tại trong xã hội với nhiều định kiến “đồng ý” người đàn ông thực hiện các hành vi bạo lực và người phụ nữ cam chịu, chấp nhận xem đó như điều hiển nhiên.
Đây được xem là "xã hội gia trưởng". Xã hội (Môi trường rộng Cộng đồng Gia đình (các Cá nhân lớn, chuẩn (hàng mối quan hệ (thủ phạm và mực văn xóm) thân thiết) nạn nhân) hóa) - Cho phép nam giới - Nghèo đói, đời - Xung đột - Chứng kiến kiểm soát hành vi của sống kinh tế thấp trong hôn nhân; bạo lực gia phụ nữ; - Tiếp xúc với - Kiểm soát tài đình khi còn - Chấp nhận BL như nhóm người vô sản gia đình; nhỏ; giải pháp. trách nhiệm - Lạm dụng - Sự vắng mặt - Quan niệm nam giới - Cô lập người quyền lực trong hay chối bỏ là người có quyền. phụ nữ và gia gia đình.
của người cha; - Duy trì chặt chẽ về đình. - Đã từng bị vai trò giới. bạo lực khi còn nhỏ. Hình 1: Nguyên nhân của bạo lực gia đình xét theo các cấp độ: cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội [3] 1.
Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người tạm trú bị bạo lực gia đình 1. Một số khái niệm: 1. Dịch vụ, dịch vụ xã hội Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể hữu hình như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội.
Dịch vụ xã hội là các hoạt động cụ thể được xây dựng trên cơ sở chính sách xã hội được triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu cá nhân, gia đình và cộng đồng, nhằm giải 12 quyết những vấn đề xã hội. Các dịch vụ xã hội là các hoạt động của nhân viên xã hội và những nhà chuyên nghiệp khác nhằm nâng cao sức khỏe và chất lượng sống của con người và giúp đỡ con người không phụ thuộc; củng cố các mối quan hệ gia đình; khôi phục chức năng xã hội đối với cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng (Whitaker anh Federico, 1990) [17]. Theo tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Tuấn (2012) cho rằng: dịch vụ xã hội là dịch vụ đáp ứng nhu cầu của cộng đồng cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo phúc lợi xã hội, đề cao giá trị pháp lý, nhân văn, vì con người; là hoạt động mang bản chất kinh tế - xã hội, do nhà nước, thị trường hoặc xã hội dân sự cung ứng, tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay tư của từng loại hình dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực: giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hóa - thông tin, thể dục - thể thao và các trợ giúp xã hội khác. Như vậy dịch vụ xã hội là hoạt động, đáp hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định để bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội.