Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHU CHẾ XUẤT 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHU CHẾ XUẤT 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp có vốn ĐTNN là thuật ngữ pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật về đầu tư tại Việt Nam. Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta có chủ trương rút ngắn khoảng cách giữa các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài, tuy nhiên, cũng như pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới, theo các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn tồn tại nhiều khác biệt.
Chính vì vậy, việc xác định và làm rõ khái niệm doanh nghiệp có vốn ĐTNN là hết sức quan trọng vì đây là cơ sở pháp lý đầu tiên để xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp, pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp, là tiền đề để doanh nghiệp có thể xác định rõ quyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật Việt Nam. Theo khoản 6 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005, doanh nghiệp có vốn nước ngoài được xác định gồm: "doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại" [42]. Như vậy, theo Luật Đầu tư, cách hiểu về doanh nghiệp có vốn ĐTNN chưa được rõ ràng, chưa có một cách hiểu chung thống nhất mà mới chỉ liệt kê được các trường hợp được coi là doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Điều này khiến cho các 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhà đầu tư gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định liệu doanh nghiệp của mình có phải là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay không? Nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ bao nhiêu phần trăm vốn trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài? Đặc biệt, trong các trường hợp nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động thì nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ đến bao nhiều phần trăm vốn điều lệ thì doanh nghiệp sẽ chuyển sang hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài? Các doanh nghiệp được thành lập do sự tham gia góp vốn của (các) doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác đã được thành lập ở Việt Nam thì được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước? Trong giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế và pháp luật đang trong quá trình hoàn thiện, những điểm chưa rõ ràng nêu trên là hoàn toàn dễ hiểu.
Tuy nhiên, một cách khái quát nhất, doanh nghiệp có vốn ĐTNN được hiểu là doanh nghiệp có sự góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Đây là cơ sở quan trọng nhất để nhận diện một doanh nghiệp có phải là doanh nghiệp có vốn ĐTNN hay không. Việc góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài có thể được thực hiện dưới hình thức thành lập doanh nghiệp mới hoặc mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Ngoài ra, trên thực tiễn, các cơ quan quản lý nhà nước đều cho rằng các doanh nghiệp được thành lập từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác tại Việt Nam cũng được coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Một vấn đề khác cũng được nhiều học giả và nhà đầu tư quan tâm là khái niệm nhà đầu tư nước ngoài. Bởi lẽ, nếu khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài không được làm rõ thì khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng không thể được làm rõ. Theo khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005, nhà đầu tư nước ngoài được xác định gồm: "tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam" [42]. Cũng giống như khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khái niệm nhà đầu tư 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước ngoài theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam được xây dựng theo phương pháp liệt kê.
Tuy nhiên, theo tôi, khái niệm này chưa chỉ rõ một số trường hợp như người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam được coi là nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài. Trước đây, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước nêu rất rõ nguyên tắc người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam có thể được lựa chọn một trong hai hình thức đầu tư là đầu tư trong nước hoặc đầu tư nước ngoài nhưng tại Luật Đầu tư năm 2005 và các văn bản hướng dẫn cho đến thời điểm hiện nay thì nguyên tắc này lại không còn được đề cập. Ngoài ra, khi xây dựng Luật Đầu tư 2005, các nhà làm luật đã lấy tiêu chí nguồn vốn đầu tư để phân biệt doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước. Tuy nhiên với cách định nghĩa nhà đầu tư nước ngoài nêu trên, tác giả cho rằng khái niệm nhà đầu tư nước ngoài chưa thể hiện được đầy đủ tiêu chí trên trên.
Bởi lẽ, tổ chức nước ngoài cũng có thể do nhà đầu tư Việt Nam thành lập ở nước ngoài để đầu tư trở lại Việt Nam. Trên thực tiễn, trong thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều trường hợp các doanh nhân Việt Nam kinh doanh ở nước ngoài và nhiều trường hợp trong số đó là rất thành công. Đến nay, các doanh nhân thông qua các công ty do họ thành lập ở nước ngoài để đầu tư vào Việt Nam. Nếu đúng theo như khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài tại Luật Đầu tư 2005 thì các doanh nghiệp được thành lập trong trường hợp này là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (do pháp nhân nước ngoài thành lập) nhưng nếu xét trên phương diện nguồn vốn đầu tư thì các doanh nghiệp này lại là các doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư của các doanh nhân Việt Nam, các doanh nghiệp trong nước.
Đây có thể coi là điểm còn chưa hoàn thiện của pháp luật về đầu tư của Việt Nam và cần được nghiên cứu và hoàn thiện trong thời gian tới. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là hình thức đầu tư mà ở đó các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư một phần hoặc toàn bộ vốn để lập ra pháp nhân mới tại Việt Nam theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu chung của các nhà đầu tư. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thể hiện dưới hai hình thức: doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có chung một số đặc điểm sau: - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nuớc ngoài là một tổ chức có tư cách pháp nhân.
Sau khi được thành lập nó trở thành chủ thể kinh doanh độc lập trực tiếp tiến hành các hoạt động kinh doanh trên danh nghĩa doanh nghiệp và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữuc hạn. Có nghĩa là các nhà đầu tư nước ngoài chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đầu tư vào doanh nghiệp đối với các khoản nợ của doanh nghiệp. - Các nhà đầu tư vốn nước ngoài có quyền sở hữu toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp theo hình thức đầu tư liên doanh hay 100% vốn.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư và pháp luật có liên quan của Việt Nam. Khái niệm và đặc điểm của khu công nghiệp, khu chế xuất Ngay từ những năm 60, sớm nhận thấy những lợi thế phát triển của các KCN tập trung, những KCN đầu tiên của nước ta được thành lập như KCN Thượng Đình (Hà Nội), Khu gang thép Thái Nguyên (Thái Nguyên), KCN hóa chất Việt Trì (Vĩnh Phúc) … Tuy nhiên, tại các văn bản pháp luật, khái niệm KCX chỉ mới được đưa ra vào năm 1991 tại Quy chế Khu chế xuất tại Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định số 332-HĐBT ngày 18/10/1991 của Hội đồng Bộ trưởng. Theo đó, KCX là "khu công nghiệp tập trung 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu" và "do Chính phủ thành lập ở những địa bàn có vị trí thuận tiện cho sản xuất hàng xuất khẩu và cho xuất khẩu, có ranh giới địa lý được ấn định theo quyết định thành lập". Khái niệm KCN được đưa ra vào năm 1994 tại Quy chế Khu công nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 192-CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ.
KCN có các đặc điểm đặc thù là "Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống" [12]. Tuy nhiên, phải chờ đến năm 1997, cả hai khái niệm KCN và KCX mới được ghi nhận một cách đầy đủ tại Quy chế KCN, KCNC được ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ. Theo Nghị định này: Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất [13].
Tiếp theo đó, định nghĩa về KCN, KCX được xây dựng chặt chẽ hơn tại một văn bản pháp lý có giá trị cao hơn, đó là Luật Đầu tư năm 2005. Theo đó: "Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ" [42] còn "khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ" [42].