Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN 1. Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán, sự phát triển địa vị pháp lý của Thẩm phán qua các thời kỳ, vị trí vai trò của Thẩm phán 1. Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán Ở nước ta, các thiết chế tổ chức có chức năng phát hiện, điều tra, truy tố xét xử người vi phạm là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân. Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp… Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [17] Xét xử được hiểu là hoạt động do Tòa án thực hiện để xem xét và giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, lao động, kinh tế với việc tuân thủ nghiêm ngặt các đòi hỏi của pháp luật và trật tự pháp luật, có tính lập luận công bằng và có ý nghĩa bắt buộc chung.
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. Theo quy định tại Điều 105 Hiến pháp 2013 thì việc bổ nhiệm, phê chuẩn, miễn nhiệm, cách chức nhiệm kỳ của Thẩm phán. do luật định.
Vị trí độc lập của Thẩm phán được tiếp tục ghi nhận trong Điều 9 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Theo đó, Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc nghiên cứu cũng cho thấy sự tách bạch và độc lập giữa Tòa án ra khỏi hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ cán bộ mới trong bộ máy nhà nước làm nhiệm vụ xét xử từ trước đến nay đó là Thẩm phán [10, tr.
Theo đó, Thẩm phán là một chức danh thuộc bộ máy tư pháp thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp. Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều định nghĩa về Thẩm phán, trong đó có cả định nghĩa được các nhà nghiên cứu thực hiện trong các công trình nghiên cứu và cả định nghĩa được thể hiện trong các văn bản pháp luật. Chẳng hạn như: "Thẩm phán là một chức danh Nhà nước trong hệ thống Tòa án các cấp. Tác giả Đỗ Gia Thư cho rằng: "Thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Tòa án, chuyên xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc theo thẩm quyền của Tòa án, ra bản án, quyết định nhân danh Nhà nước" [25, tr.
Theo luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định định nghĩa "Thẩm phán là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử" [18] Theo khái niệm này thì thẩm phán phải có đủ điều kiện và tiêu chuẩn và được Chủ tịch nước bổ nhiệm theo thủ tục do pháp luật quy định. Điều này có nghĩa là chức danh Thẩm phán phải do người đứng đầu Nhà nước bổ nhiệm chứ không phải là người đứng đầu ngành Tòa án có thẩm quyền quyết định, nhiệm vụ chính mà Thẩm phán được giao là xét xử. Cũng theo luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì tương ứng với ba cấp Tòa án có ba ngạch Thẩm phán tương ứng và thẩm quyền bổ nhiệm đối với các ngạch Thẩm phán này cũng khác nhau và để được bổ nhiệm làm 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thẩm phán thì cán bộ Tòa án phải đáp ứng những điều kiện và tiêu chuẩn về bổ nhiệm Thẩm phán do pháp luật quy định Theo Từ điển tiếng Việt "địa vị" là vị trí, chỗ đứng xứng đáng với vai trò, tác dụng có được hay "địa vị là vị trí cá nhân trong quan hệ xã hội do chức vụ, cấp bậc, quyền lực mà có, về mặt được coi trọng ít hay nhiều; vị trí trong quan hệ xã hội, kinh tế, chính trị do vai trò tác dụng mà có" [29, tr. Bên cạnh đó, theo Từ điển Luật học thì "địa vị pháp lý" là "vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật, địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện một cách tổng thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình" [32, tr.
Như đã nói ở trên Thẩm phán trước hết phải hiểu đó là người - chuyên hành nghề xét xử. Công việc xét xử của Thẩm phán được là một nghề - nghề có tính đặc thù. Bởi lẽ, chỉ có Tòa án mới có chức năng xét xử. Tính đặc thù nghề nghiệp của Thẩm phán được thể hiện ở chỗ: Nghề này có ảnh hưởng lớn đến tính công minh của pháp luật, uy tín về nền công lý của một quốc gia, lao động của Thẩm phán chính là lao động trí óc, đầy khó khăn phức tạp dưới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội và công dân.
Thẩm phán là người đại diện cho Nhà nước trực tiếp áp dụng pháp luật, do vậy sự công bằng, khách quan và độc lập khi tiến hành tố tụng là không thể thiếu được của người Thẩm phán, hoạt động của Thẩm phán gắn liền với việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức. Thẩm phán hoạt động theo một trình tự pháp lý chặt chẽ được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tố tụng hành chính; khi xét xử Hội đồng xét xử nhân danh nhà nước để ra bản án hoặc quyết định. Do đó địa vị pháp lý của Thẩm phán là những quy định pháp luật xác định tư cách tố tụng và vị trí (chỗ đứng) của Thẩm phán so với các chủ thể khác khi tham gia vào quá trình tố tụng nói chung và các quy trình tố tụng chuyên ngành nói riêng. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán tập trung tại các văn bản như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; các thông tư có liên quan.
Như vậy, địa vị pháp lý của Thẩm phán được hiểu là tổng thể các vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được pháp luật tố tụng (tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính) trao cho họ khi thực hiện các hoạt động tố tụng nhân danh Nhà nước và các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án. Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt địa vị pháp lý của Thẩm phán với tư cách là một chức danh được nhân danh nhà nước với địa vị pháp lý của người Thẩm phán khi họ với tư cách là một công dân, cán bộ, công chức nhà nước. Dưới góc độ của một công dân, Thẩm phán cũng có đầy đủ các quyền và nghĩa cơ bản của một công dân được pháp luật hiện hành quy định. Quyền và nghĩa vụ này được quy định cụ thể trong Hiến pháp- văn bản có giá trị pháp lý cao nhất.
Dưới góc độ là cán bộ, công chức nhà nước, Thẩm phán được hưởng các quyền và phải chịu các nghĩa vụ của một cán bộ, công chức nhà nước theo luật cán bộ công chức quy định. Tuy nhiên, không phải mọi quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức nhà nước đều được áp dụng cho Thẩm phán vì xuất phát từ chính tính đặc thù của nghề nghiệp mà Thẩm phán đảm nhiệm. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã quy định quyền và nghĩa vụ riêng biệt của người Thẩm phán phù hợp với nghề nghiệp của Thẩm phán. Ví dụ: Thẩm phán không được "Tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật" (Khoản 2 Điều 77 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014).
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sự phát triển địa vị pháp lý của Thẩm phán qua các thời kỳ Sau một quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy các quy định về chế định Thẩm phán ngày càng được khẳng định và hoàn thiện hơn nữa. Các quy định về Thẩm phán ở các giai đoạn lịch sử là khác nhau, gắn với những dấu mốc lịch sử quan trọng của đất nước. Trong các giai đoạn lịch sử, từ khi giành được chính quyền, pháp luật Việt Nam nói chung đều luôn coi trọng việc quy định về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Thẩm phán.
Giai đoạn từ 1945 đến 1959 Ngày 24/01/1946, ngay sau khi dành được chính quyền, để phục vụ xây dựng và củng cố chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán. Sắc lệnh này được coi là cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc tổ chức, vận hành các cơ quan tư pháp nói chung và quy định chức năng, nhiệm vụ, vai trò của Thẩm phán nói riêng. Nội dung Sắc lệnh khẳng định rõ: Tòa án được tổ chức theo địa giới hành chính bao gồm: Tòa sơ cấp, Tòa đệ nhị cấp và Tòa Thượng thẩm. Ngoài ra, còn có Ban tư pháp xã, phường cũng nằm trong hệ thống các cơ quan xét xử - những quy định này tồn tại đến năm 1960 (cụ thể là ngày 14/7/1960).
- Đối với Tòa sơ cấp (mỗi phủ, quận, huyện, châu có một Tòa sơ cấp) có một Thẩm phán, một lục sự, một Thư ký giúp việc cho Thẩm phán (theo Điều 9, Sắc lệnh 13).