Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN 1. Khái niệm Thẩm phán, địa vị pháp lý của Thẩm phán Trong bộ máy nhà nước, Tòa án nhân dân có một vị trí đặc biệt quan trọng - là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh tế, hành chính, kinh doanh thương mại và giải quyết các công việc khác theo quy định của pháp luật như thi hành án, giải thích pháp luật… Bằng hoạt động của mình, Tòa án bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền dân chủ của công dân, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, nhân phẩm danh dự của công dân và bảo vệ tài sản của Nhà nước. Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án góp phần giáo dục công dân ý thức pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống, tham gia cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.
Trong hoạt động xét xử của Tòa án, Thẩm phán được coi là nhân tố, hạt nhân rất quan trọng, nhân vật trung tâm. Xét xử được hiểu là "hoạt động do Tòa án thực hiện để xem xét và giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, lao động, kinh tế với việc tuân thủ nghiêm ngặt các đòi hỏi của pháp luật và trật tự pháp luật, có tính lập luận công bằng và có ý nghĩa bắt buộc chung" [44, tr. Xét xử đã có từ rất lâu đời nhưng sự ra đời của Thẩm phán lại khá muộn màng. Dưới thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến hình thức nhà nước chủ yếu là quân chủ lập hiến, hoạt động xét xử cũng như hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến mà đại diện là nhà vua.
Nhà vua là người nắm toàn bộ quyền hành, đứng đầu Nhà nước ban hành các đạo luật, quyết định tổ chức thực hiện và là người 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có quyền lực cao nhất. Đến mãi sau này vào khoảng thế kỷ 17 - 18, giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế dần quyền lực của nhà vua, tiến tới xóa bỏ Nhà nước phong kiến lỗi thời. Trong thời gian này, các học giả tư sản mà tiêu biểu nhất là Montesquieu đã đưa ra luận điểm: phải tách các hoạt động ban hành pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật và hoạt động xét xử, chia quyền lực nhà nước thành 3 loại quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau tạo cơ chế kiềm chế đối trọng lẫn nhau, chống lại tư tưởng độc quyền của một người, hay của một cơ quan nào đó, nắm toàn bộ quyền lực nhà nước. Có thể nói sự tách bạch và độc lập giữa Tòa án ra khỏi hai nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ cán bộ mới trong bộ máy nhà nước làm nhiệm vụ xét xử từ xưa đến nay chưa có đó là Thẩm phán [28, tr.
Vậy, Thẩm phán được hiểu như thế nào cho đầy đủ và chính xác? Cũng có nhiều khái niệm (định nghĩa) về Thẩm phán chẳng hạn như: - "Thẩm phán là một chức danh Nhà nước trong hệ thống Tòa án các cấp" [27]. - Theo tác giả Đỗ Gia Thư: "Thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Tòa án, chuyên xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc theo thẩm quyền của Tòa án, ra các bản án, quyết định nhân danh Nhà nước" [28, tr. - Tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 đã đưa ra khái niệm "Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án" [41]. Trải qua sự phát triển của lịch sử cũng như sự phát triển của nền lập pháp từ khi chưa có đội ngũ Thẩm phán đến khi xuất hiện đội ngũ Thẩm phán để từ đó khái niệm về Thẩm phán dần được xuất hiện và ngày càng hoàn thiện hơn.
Chúng tôi đồng tình với khái niệm về Thẩm phán được quy định tại Pháp 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002. Đây là khái niệm hoàn chỉnh và đầy đủ về Thẩm phán. Theo khái niệm này thì Thẩm phán phải có tiêu chuẩn và được bổ nhiệm theo thủ tục do pháp luật quy định. Tức là chế độ bổ nhiệm Thẩm phán được thực hiện đối với Tòa án các cấp.
Việc bổ nhiệm Thẩm phán phải do người có thẩm quyền bổ nhiệm, tương ứng với 3 cấp Tòa án có 3 ngạch Thẩm phán tương ứng và thẩm quyền bổ nhiệm đối với các ngạch Thẩm phán này cũng khác nhau. Và để được bổ nhiệm làm Thẩm phán thì cán bộ Tòa án phải đáp ứng những tiêu chuẩn về bổ nhiệm Thẩm phán do pháp luật quy định. Chức năng, nhiệm vụ xét xử của Tòa án được thực hiện thông qua hoạt động xét xử trong đó Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa tham gia vào việc ra bản án hoặc quyết định nhân danh Nhà nước, thay mặt Hội đồng xét xử tuyên án hoặc các quyết định tố nhân danh Nhà nước như quyết định đình chỉ xét xử sơ thẩm, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, quyết định trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa được phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra các quyết định tố tụng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định trả hồ sơ, quyết định hoãn phiên tòa.
Bên cạnh đó, Thẩm phán còn tham gia giải quyết vụ án với vai trò là Thẩm phán - thành viên của Hội đồng xét xử trong trường hợp xét xử theo trình tự sơ thẩm khi Hội đồng xét xử gồm 5 người hoặc theo trình tự phúc thẩm. Ngoài nhiệm vụ xét xử, Thẩm phán còn thực hiện các nhiệm vụ khác thuộc thẩm quyền của Tòa án khi được lãnh đạo phân công. Ví dụ: tham gia vào Hội đồng giảm án tha tù. Nói đến Thẩm phán trước hết phải hiểu đó là người - chuyên hành nghề xét xử.
Công việc xét xử của Thẩm phán được coi là một nghề - nghề có tính đặc thù. Bởi lẽ, chỉ có Tòa án mới có chức năng xét xử. Tính đặc thù nghề nghiệp của Thẩm phán được thể hiện ở chỗ: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nghề này ảnh hưởng lớn đến tính công minh của pháp luật, uy tín về nền công lý của một quốc gia. - Lao động của Thẩm phán chính là lao động trí óc, đầy khó khăn phức tạp dưới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội và công dân; - Thẩm phán là người đại diện cho Nhà nước trực tiếp áp dụng pháp luật do vậy sự công bằng khách quan, tình người là không thể thiếu được của người Thẩm phán; - Hoạt động của Thẩm phán gắn liền với việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức; - Độc lập xét xử là nguyên tắc cơ bản đối với hoạt động của Thẩm phán; - Thẩm phán hoạt động theo một trình tự pháp lý chặt chẽ được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự; - Khi xét xử, Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước để ra bản án hoặc quyết định.
Thẩm phán được coi là một chức danh quan trọng không thể thiếu trong tổ chức bộ máy nhà nước, có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền tư pháp. Bởi lẽ, hoạt động xét xử là hoạt động trung tâm thực hiện quyền tư pháp. Ở nước ta Thẩm phán được coi là một chức danh từ năm 2002 và được ghi nhận bằng cơ sở pháp lý tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002, còn trở về trước Thẩm phán chỉ được coi là một chức vụ. Đây là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự thay đổi về nhận thức khoa học, muốn xây dựng đội ngũ Thẩm phán chuyên nghiệp thì trước hết phải coi Thẩm phán là một nghề, có vị trí chức danh nhất định trong xã hội có như vậy Thẩm phán mới có cơ sở điều kiện pháp lý để làm việc và yên tâm cống hiến, phấn đấu cho sự nghiệp của mình.
Ngoài ra, Thẩm phán còn được coi là công chức nhà nước. Theo Pháp lệnh cán bộ công chức hiện hành, Thẩm phán được xếp vào ngạch công chức 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhà nước được hưởng mọi quyền lợi, nghĩa vụ và chế độ của công chức nói chung. Vậy khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự được hiểu như thế nào? Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì "địa vị" được hiểu là "vị trí, chỗ xứng đáng với vai trò tác dụng có được hay vị trí chỗ đứng của cá nhân trong xã hội" [45]. Trong cơ quan Tòa án có nhiều cán bộ, công chức nhưng người thực hiện nghiệp vụ xét xử và có thẩm quyền ra bản án, quyết định nhân danh Nhà nước thì chỉ có Thẩm phán.
Đó là việc đưa ra các quyết định mang tính chất bắt buộc chung bằng cách này hay cách khác liên quan đến các quyền và tự do cơ bản, các lợi ích hợp pháp của công dân, của cơ quan nhà nước, của các tổ chức xã hội. Những giá trị xã hội rất cần thiết cho mọi Nhà nước dân chủ thực sự như số phận pháp lý của con người, khẳng định và duy trì pháp chế, trật tự pháp luật có thể tùy thuộc vào những người Thẩm phán. Quyền tư pháp thuộc về các Thẩm phán. Các Thẩm phán thực hiện quyền đó một cách độc lập trong sự phối hợp hoạt động với Hội thẩm nhân dân hoặc Hội thẩm quân nhân.
Do đó, họ không chỉ thể hiện với tư cách là cái đảm bảo cho các quyền và các lợi ích hợp pháp, cho pháp chế và trật tự pháp luật mà trong những hoàn cảnh nhất định còn thể hiện với tư cách là vai trò của nhân tố phối hợp với các quyền khác của quyền lực nhà nước, quyền lập pháp, quyền hành pháp. Dưới sự ảnh hưởng của các đặc điểm về các nhiệm vụ được đội ngũ Thẩm phán đảm nhiệm trong vòng nhiều thập kỷ và đã hình thành và thừa nhận địa vị của các Tòa án, của các Thẩm phán cần phải có sự khác biệt so với địa vị pháp lý của các cơ quan nhà nước với những người có chức vụ quyền hạn trong các cơ quan đó.