Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO 1. KHÁI NIỆM, CƠ SỞ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự C. Mác đã nói: "Dưới chế độ dân chủ, không phải con người tồn tại vì pháp luật mà pháp luật tồn tại vì con người" [28, tr. Hơn thế, chúng ta thừa nhận rằng "pháp luật có vai trò, giá trị to lớn ở tất cả các giai đoạn phát triển của nhân loại trên những mức độ nhất định" [33, tr.
Một trong những vai trò to lớn của pháp luật đó là ghi nhận được hệ thống địa vị pháp lý của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước. Theo Từ điển Luật học thì: Địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với chủ thể khác trên cơ sở các quy định pháp luật. Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lí của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong hoạt động của mình [5, tr. Chính sự quan trọng của chế định địa vị pháp lý của công dân nên trong xã hội hiện đại ngày nay, tất cả các quốc gia trên thế giới đều đã ghi nhận địa vị pháp lý của công dân trong những văn kiện quan trọng nhất của quốc gia mình.
Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã trang trọng ghi nhận địa vị pháp lý của công dân tại Hiến pháp ngay từ những ngày đầu thành 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lập nước. Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, chế định địa vị pháp lý của công dân đã được thay đổi, bổ sung nhiều lần. Ngày nay, Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 ghi nhận chế định này tại chương V. Theo quy định tại chương này thì công dân Việt Nam có những quyền và tự do rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Không chỉ quy định quyền mà Nhà nước ta còn có những quy định để bảo đảm những quyền đó. Nghĩa vụ không chỉ gắn với quyền mà còn là một yếu tố quan trọng để đảm bảo cho quyền của công dân luôn được thực hiện trên thực tế. Chẳng hạn Điều 58, Hiến pháp năm 1992 quy định "Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân". Để ghi nhận một cách thống nhất, thành một chế định hoàn chỉnh Hiến pháp năm 1992 đã quy định rất rõ tại Điều 51 Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội. Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định [35]. Từ những quy định mang tính tối cao là Hiến pháp, các văn bản luật đã triển khai những quy định về địa vị pháp lý của công dân dưới nhiều cách khác nhau. Trong tố tụng hình sự, địa vị pháp lý của công dân được biết đến như một tập lớn gồm nhiều tập con.
Sở dĩ nói như vậy là vì trong tố tụng hình sự có rất nhiều loại chủ thể: chủ thể tham gia tố tụng, chủ thể tiến hành tố tụng.và mỗi chủ thể lại được pháp luật tố tụng hình sự quy định một địa vị pháp lý nhất định. Trước khi đưa ra khái niệm cụ thể về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự chúng ta cũng cần định nghĩa về thế nào là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Khái niệm người bị tạm giữ: Điều 38, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 lần đầu tiên đưa ra định nghĩa: "Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có quyết định tạm giữ, nhưng chưa bị khởi tố" [34]. Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 là có thể văn bản pháp lý đầu tiên định nghĩa thế nào là "người bị tạm giữ".
Bởi vì trước đó trong các văn bản pháp luật cũng có đề cập đến vấn đề tạm giữ tuy nhiên nhà làm luật lại không hề đề cập đến việc định nghĩa thế nào là người bị tạm giữ. Ví dụ tại Luật số 103/SL/1.005 ngày 20 tháng 5 năm 1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở của công dân cũng đã quy định về việc tạm giữ, theo đó cơ quan tư pháp huyện hoặc công an huyện tạm giữ can phạm để xét và hỏi cung rồi phải quyết định tha hẳn, tạm tha hoặc giải lên tòa án nhân dân hoặc công an cấp trên. Kế thừa và phát triển những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhà làm luật quy định "Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ" [36]. Tuy có sự định nghĩa nhưng thực chất cả hai bộ luật đều chỉ định nghĩa theo phương pháp liệt kê, chưa thực sự có một định nghĩa hoàn toàn khoa học, đầy đủ nội hàm của vấn đề.
Hiện nay trong các sách báo, tạp chí hay các công trình khoa học chuyên khảo cũng rất ít đưa ra định nghĩa khoa học về là "người bị tạm giữ" khác với định nghĩa trong Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy cần có sự định nghĩa cụ thể hơn về "người bị tạm giữ". Bởi vì một định nghĩa không chỉ đơn thuần là nêu hoặc liệt kê mà cần phải nêu lên nội hàm của vấn đề. Cụ thể là: Người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự là 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người bị cách ly với xã hội trong một thời gian cần thiết nhằm ngăn chặn việc họ tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác định sự liên quan của người đó đối với tội phạm.
- Khái niệm bị can: Thuật ngữ "bị can" được sử dụng lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 13 ngày 21 tháng 01 năm 1946 về tổ chức tòa án và các ngạch thẩm phán. Tuy nhiên trong Sắc lệnh chỉ đề cập đến "bị can" như là can phạm hay người bị Tòa án xét xử chứ không hề định nghĩa rõ ràng người như thế nào thì được gọi là "bị can". Ví dụ: tại Điều thứ 5 Sắc lệnh quy định "Khi bắt người trong hai trường hợp kể trên, ban Tư pháp phải lập biên bản hỏi cung, và giải bị can lên ngay Tòa án trên, trong hạn 24 giờ là cùng". Hay tại Điều thứ 31 của Sắc lệnh này có quy định: Sau khi nghe các bị can, các người chứng, cáo trạng của ông Biện lý, và sau cùng nghe lời cãi của các bị can, ông Chánh án, hai Thẩm phán và hai Phụ thẩm nhân dân lui vào phòng nghị xử để cùng xét xử về tất cả các vấn đề thuộc về tội trạng, hình phạt trường hợp tăng tội, và trường hợp giảm tội [Dẫn theo 42].
Năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời cũng là thời điểm mà định nghĩa pháp lý về "bị can" được chính thức ghi nhận. Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 "Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự". Kế thừa Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, tại khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tiếp tục ghi nhận: "Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự" Như vậy là theo những định nghĩa này của Bộ luật thì một người chỉ có thể bị khởi tố với tư cách bị can trong vụ án hình sự khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Không ai có thể bị coi là bị can nếu không có quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Khái niệm bị cáo: Hiện nay khái niệm "bị cáo" được hiểu rộng rãi và trở nên phổ biến. Tuy nhiên để có khái niệm đầy đủ về "bị cáo" thì tố tụng hình sự Việt Nam phải mất cả một chặng đường dài. Ngày 13/9/1945 trong Sắc lệnh 33C quy định về việc thành lập một số tòa án quân sự của Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chính thức đề cập tới thuật ngữ bị cáo theo đó tại Điều V quy định "Bị cáo có thể tự bào chữa hay nhờ một người khác bênh vực cho". Đến tháng 11/1946 khi ban hành bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Quốc hội đã thông qua Điều thứ 67, trong đó cũng ghi nhận: Các phiên tòa án đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt; người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư.
Mặc dù thuật ngữ "bị cáo" xuất hiện trong Hiến pháp nhưng việc phân biệt "bị can" "bị cáo" thời kỳ này còn chưa rõ rệt. Hơn thế vẫn chưa có một định nghĩa rõ ràng thế nào là "bị cáo". Thuật ngữ "bị cáo" vẫn tiếp tục được sử dụng trong nhiều sắc lệnh về tòa án tuy nhiên phải đến năm 1974 trong Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự mới đưa ra định nghĩa pháp lý về khái niệm bị cáo "Bị cáo là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước tòa án nhân dân". Trong Bộ luật tố tụng hình sự 1988 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 định nghĩa bị cáo đã được ghi nhận.
Cả hai bộ luật đều định nghĩa "Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử". Với sự định nghĩa này, thì chỉ những người bị Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử mới được gọi là bị cáo. Tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và 2003, các nhà làm luật đã phân định rõ tư cách tố tụng của một người ứng với các giai đoạn tố tụng khác nhau. Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố dùng thuật ngữ "bị can", còn khi Tòa án có quyết định đưa ra xét xử vụ án thì "bị can" được chuyển thành "bị cáo".
Thực chất của việc phân biệt này rất 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.