Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CẤP SƠ THẨM 1. KHÁI NIỆM ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CẤP SƠ THẨM. Xét xử sơ thẩm Xét xử là một hoạt động đặc thù mà chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền thực hiện. Tòa án thay mặt Nhà nước xem xét bản chất pháp lý của một vụ án từ đó đưa ra phán quyết.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta, Tòa án xét xử theo hai cấp, đó là cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm. Cấp xét xử sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên, mọi vụ án đã đưa ra xét xử đều phải trải qua hoạt động xét xử sơ thẩm. Theo Từ điển Luật học "xét xử sơ thẩm là một từ Hán Việt, có nghĩa lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền" [31, tr. Theo quan điểm của tác giả Đinh Văn Quế "xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Tòa án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật" [9, tr.
Ta có thể nhận thấy xét xử sơ thẩm có các dấu hiệu sau: Đây là cấp xét xử đầu tiên trong tố tụng hình sự, bất cứ vụ án nào đã đưa ra xét xử đều phải qua hoạt động xét xử sơ thẩm. Xét xử sơ thẩm là hoạt động nằm trong giai đoạt xét xử của quá trình tố tụng. Việc xét xử sơ thẩm chỉ được thực hiện trên cơ sở có quyết định truy tố (bằng cáo trạng hay quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn) của Viện kiểm sát. Việc xét xử sơ thẩm được tiến hành tại một phiên tòa do một HĐXX thực hiện theo những trình tự thủ tục pháp luật quy định.
Một vụ án bị Tòa án cấp trên hủy để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm cũng được coi là xét xử lần đầu tiên, theo cấp xét xử đầu tiên. Xét xử sơ thẩm được coi là giai đoạn trung tâm của hoạt động tư pháp khi vụ án được đưa ra xét xử lần đầu tiên, HĐXX sơ thẩm phải giải quyết 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com toàn bộ vụ án, mọi chứng cứ tài liệu được thu thập tại giai đoạn điều tra đều phải được đưa ra xem xét, thẩm tra, đánh giá công khai tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng được trình bày ý kiến và tranh luận bình đẳng tại phiên tòa. Điều này khác với tính chất của xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm chủ yếu chỉ xem xét những nội dung có kháng cáo, kháng nghị và xem xét tính hợp pháp, có căn cứ của bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới. Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) và BLTTHS năm 2003, Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm là TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh, Tòa án quân sự (TAQS) khu vực và TAQS cấp quân khu.
Tòa án nhân dân tối cao hiện nay không còn thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm như theo quy định của BLTTHS năm 1988. Số lượng các vụ án hình sự xét xử sơ thẩm của toàn ngành Tòa án hàng năm là rất lớn. Năm 2007 toàn ngành Tòa án xét xử sơ thẩm 55.260 bị cáo, năm 2008 xét xử sơ thẩm 63. Số liệu đó phần nào cũng phản ánh xét xử sơ thẩm là một hoạt động thường xuyên, rất quan trọng của ngành Tòa án.
Hoạt động này có tác động đến rất nhiều mặt của cuộc sống như chính trị, kinh tế, xã hội, có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.2 Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm Xét xử là một hoạt động được pháp luật quy định phải được thực hiện bởi một tập thể. Tập thể đó được thành lập theo quy định của pháp luật, hoạt động theo những nguyên tắc do pháp luật quy định. Tập thể đó có những quyền hạn, trách nhiệm theo quy định của pháp luật, tập thể đó được pháp luật gọi là HĐXX. Điều 6 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 quy định "Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
Thành phần Hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử do pháp luật tố tụng quy định" [14]. Tòa án xét xử tập thể còn là một nguyên tắc đã được ghi nhận tại Điều 131 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Điều 18 BLTTHS. Quy định này xuất phát từ việc coi trọng hoạt động xét xử, Nhà nước thấy rằng xét xử là một hoạt động 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đặc thù, rất khó khăn, phức tạp, cần có sự thận trọng. Do đó Nhà nước trao quyền xét xử cho một tập thể với mong muốn tập thể xét xử sẽ bảo đảm khách quan, công bằng và chính xác hơn.
Tại phiên tòa HĐXX giữ vị trí trung tâm, mọi hoạt động tại phiên tòa đều nhằm mục đích giúp cho HĐXX xác định được sự thật của vụ án từ đó ra bản án, quyết định đúng pháp luật. Trong quá trình xét xử, HĐXX hoạt động theo nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nguyên tắc quyết định theo đa số và các quy định khác của pháp luật. Khi xét xử, HĐXX có quyền nhân danh Nhà nước kết tội hoặc tuyên bố một người là vô tội, HĐXX cũng có quyền thay mặt Nhà nước giải quyết những vấn đề có liên quan đến vụ án như áp dụng hình phạt, bồi thường dân sự hay khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Theo quy định của BLTTHS thành phần HĐXX xét xử ở cấp sơ thẩm gồm có Thẩm phán và các Hội thẩm.
Thẩm phán là người được Nhà nước bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán, chuyên làm công tác xét xử tại Tòa án. Thẩm phán được Nhà nước trao cho nhiều quyền hạn và trách nhiệm để thực hiện nhiệm vụ của mình. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình Thẩm phán có thể có nhiều quyết định hoặc hành động có liên quan đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và công dân. Do vậy Nhà nước quy định tiêu chuẩn của một Thẩm phán rất chặt chẽ.
Khoản 1 Điều 37 Luật Tổ chức TAND quy định: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩ Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của pháp luật, có năng lực làm công tác xét xử, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán [14]. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong tố tụng hình sự được quy định tại Điều 39 BLTTHS như sau: 1. Thẩm phán được phân công giải quyết, xét xử các vụ án hình sự có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa; b) Tham gia xét xử các vụ án hình sự; c) Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐXX; d) Tiến hành các hoạt động tố tụng khác theo sự phân công của Chánh án Tòa án. Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa, ngoài những nhiệm vụ quyền hạn được quy định tại khoản 1 điều này còn có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật này; b), Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung; c)Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; d)Quyết định triệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên tòa; Tiến hành các hoạt động tố tụng khác theo sự phân công của Chánh án Tòa án [15].
Thẩm phán là một nghề vinh quang nhưng cũng rất khó khăn, vất vả, chịu nhiều sức ép, thậm chí có cả hiểm nguy khi thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam nghề Thẩm phán chưa được quan tâm đúng mức, vị thế trong xã hội được coi trọng, chế độ đãi ngộ còn chưa tương xứng. Hội thẩm là người được pháp luật quy định là thành viên của HĐXX. Vai trò của Hội thẩm trong hoạt động xét xử rất quan trọng, họ đại diện cho nhân dân tham gia xét xử, tham gia giám sát hoạt động xét xử của Tòa án.
Trong thành phần HĐXX cấp sơ thẩm bắt buộc phải có sự tham gia của Hội thẩm, đây là một đặc điểm riêng về thành phần của HĐXX cấp sơ thẩm. Tại TAND có các Hội thẩm nhân dân, tại TAQS có các Hội thẩm quân nhân. Hội thẩm nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, Hội thẩm quân nhân do được cử 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Pháp luật quy định tiêu chuẩn về Hội thẩm rất rõ ràng, khoản 2 Điều 37 Luật Tổ chức TAND quy định: Công dân Việt Nam trung thành với tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, thì có thể được bầu hoặc cử làm Hội thẩm [14].
Hội thẩm tham gia xét xử các vụ án hình sự có các quyền hạn và trách nhiệm được quy định tại Điều 40 BLTTHS như sau: 1. Hội thẩm được phân công xét xử các vụ án hình sự có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa; b)Tham gia xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm; c)Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và những quyết định của mình [15]. Trách nhiệm, quyền hạn của Thẩm phán và Hội thẩm trong hoạt động tố tụng được quy định trong pháp luật tố tụng, nhưng Thẩm phán và Hội thẩm còn có trách nhiệm, quyền hạn theo các quy định khác của pháp luật.
Khoản 4 Điều 37 Luật tổ chức TAND quy định: Thẩm phán, Hội thẩm chịu trách nhiệm trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình và phải giữ bí mật công tác theo quy định của pháp luật; nếu có hành vi vi phạm pháp luật tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.