CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DI SẢN THỜ CÚNG 1. Khái niệm Thờ cúng Trong các hình thái tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng cổ truyền mang tính phổ quát của người Việt Nam. Thờ cúng tổ tiên đã trở thành một tập tục truyền thống, có vị trí hết sức đặc biệt trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam, là một trong các thành tố tạo nên bản sắc vàn hóa Việt Nam. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên rất giản dị: tin rằng tồ tiên mình là thiêng liêng, họ đi vào cõi vĩnh hằng nhưng vẫn sống cạnh con cháu, họ phù hộ cho con cháu khi gặp tai ách, khó khăn; vui mừng khi con cháu gặp may mắn, khuyến khích cho con cháu khi gặp điều lành và cũng quở trách con cháu khi làm những điều tội lồi.
Ở nước ta, thờ cúng tố tiên không chì là tín ngưỡng phổ biến ở người Việt - tộc người đa số - mà còn lưu giữ ở một vài tộc người khác như người Mường, người Thái. Trải qua bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, trong khi nhiều tôn giáo, tín ngưỡng dân gian khác đã phải chịu cảnh long đong, bị kết tội “mê tín dị đoan” nhung tín ngưỡng thờ tố tiên đã và vẫn chiếm được vị trí thiêng liêng trong đời sống tinh thần của người Việt. Ý thức “con người có tồ, có tông” được bảo tồn trong cõi tâm linh và lưu truyền từ thể hệ này sang thế hệ khác, dù họ sống trên tổ quốc mình hay lưu vong nơi xứ người. Đặc biệt đây là hình thức tín ngưỡng được các thể chế chính trị (Nhà nước) từ xưa đến nay trân trọng thừa nhận, dù rằng với những mức độ khác nhau.
Cùng với tiến trình lịch sử của dân tộc, nó là sự bồi lắng, kết tụ những giá trị đạo đức quý báu của con người Việt Nam. Theo Từ điển Tiếng Việt thì khái niệm “Thờ cúng”, “Thờ phụng”, 6 “Thờ tự” hay “thờ” cùng có chung nghĩa là “Tỏ lòng tôn kính thân thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết bằng hình thức lề nghi cúng bái theo phong tục hoặc tin ngưỡng’’ [39, tr. 921], Có quan điếm cho rằng: “Thờ cúng là hoạt động cổ ỷ thức của con người, là tổng thể phức hợp những yếu tổ: ỷ thức về tô tiên, biêu tượng về tô tiên và lễ nghi thờ cúng trong không gian thờ củng ” [24, tr. Thờ là yếu tố thuộc ý thức về tổ tiên, là tình cảm biết ơn, tưởng nhớ, hướng về cội nguồn, quá khứ.
Thờ tổ tiên là sự thể hiện lòng thành kính, biết ơn, tưởng nhớ tổ tiên, đồng thời cũng là sự thể hiện niềm tin vào sự che chở, bảo hộ, trợ giúp của tồ tiên. Cơ sở của sự hình thành ý thức về tồ tiên là niềm tin về linh hồn tổ tiên còn sống, có thể che chở, phù hộ độ trì cho con cháu. Biểu tượng về tổ tiên là hình ảnh về những người tài giỏi, có công, có đức. Trên bàn thờ tổ tiên thường có bài vị, tượng, ảnh được bày đặt cầu kỳ, trang trọng.
Cúng là yếu tố mang tính nghi lễ, là sự thực hành một loạt động tác (khấn, vái, quỳ, lạy) của người gia trưởng, tộc trưởng. Đó là hoạt động dưới dạng hành lễ và được qui định bởi quan niệm, phong tục, tập quán của mồi cộng đồng, dân tộc. Thờ và cúng là hai yếu tố có tác động qua lại và tạo nên chỉnh thế riêng biệt - đó là sự thờ phụng tổ tiên. Sự “thờ”, “tôn thờ” là nội dung, còn hoạt động cúng là hình thức biểu đạt của nội dung thờ cúng.Ý thức tôn thờ, thành kính, biết ơn, tưởng nhớ, hy vọng sự trợ giúp của tố tiên là nội dung cốt lõi, là cái chù yếu khiến sự thờ phụng tổ tiên thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Nếu không có “thờ” mà chỉ có “cúng” thì sự thờ phụng tổ tiên không có “hồn thiêng”, không có sức hấp dẫn nội tại dễ thành nhạt nhẽo và do vậy, không thể là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Sự “cúng” tuy chỉ là hình thức biểu đạt, song nó tôn vẻ linh thiêng, huyền bí, mờ ảo và tạo nên sức hấp dẫn. Nó chính là chất kết dính, tạo nên màu sắc thoả mãn niềm tin của chủ thể thờ cúng. 7 Trong cuôn Từ điên tín ngưỡng tôn giáo, nhà nghiên cứu Mai Thanh Hải cho rằng: “Thờ cúng tổ tiên: Ở Việt Nam, tuy không phải là một tôn giáo, tục lệ thờ cúng tổ tiên được nhiều thế hệ truyền qua từ đời này sang đời khác với một tấm lòng thành kính biết ơn đối với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ đã khuất, kể cả đối với người đã theo Công giáo” [9, tr.
Xuất phát từ nguồn gốc, truyền thống của tín ngưỡng thờ cúng và các hình thức thờ cúng, thờ cúng tổ tiên với ý nghĩa chính là sự biết ơn công lao của tổ tiên và sự cầu xin tổ tiên trợ giúp, có thể đưa ra khái niệm về thờ cúng tổ tiên như sau: Thờ cúng tô tiên là hoạt động cỏ ý thức của con người nhằm bày tỏ lòng thành kính, biết ơn đến tô tiên, cầu mong sự che chở, trợ giúp của tô tiên khi con người thực hiện một công việc hoặc trước một sự kiện quan trọng trong đời sổng thường ngày. Di săn thừa kế và di sản dùng vào việc thò' cúng 1. Di sản thừa kế Thuật ngữ di sản thừa kế là một thuật ngữ pháp lý đã xuất hiện và được sử dụng thường xuyên, rộng rãi tại tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có cả Việt Nam. Thuật ngữ này được sử dụng trong suốt quá trình phát sinh quan hệ pháp luật về thừa kế, đồng thời gắn liền với việc định đoạt, phân chia và chuyến dịch các tài sản mà người chết đế lại, hoặc toàn bộ các quyền và nghĩa vụ về tài sản của người chết được xác lập và gắn liền với khối tài sản mà người chết để lại.
Từ trước đến nay tại Việt Nam chưa hề có bất cứ một khái niệm cụ thể và chính thức nào để giải nghĩa cho thuật ngữ này. Do đó, để có thể hiểu chi tiết hơn về thuật ngữ “Di sản thừa kể”, việc xem xét thuật ngừ này dưới khái niệm và nội hàm của các thuật ngừ tương đồng là phương pháp tối ưu nhất cho việc định nghĩa về Di sản thừa kế. Theo Từ điển tiếng Việt có nhắc đến thuật ngữ “Di sản” theo định nghĩa là “1 .Tài sản của người chết đế lại, hưởng di sản của cha mẹ.Cái của 8 thời trước đê lại. Kê thừa di sản văn hóa” [39, tr.
Với khái niệm này, Di sản được hiểu theo hai nghĩa phổ biến nhất, theo đó ý nghĩa đầu tiên có thể được hiểu dưới dạng ý nghĩa cụ thể, trực tiếp thông qua việc xác định rõ Di sản tức là tài sản của người chết đế lại, hay bao gồm cả việc con cái thụ hưởng lại những tài sản mà bố mẹ sau khi chết để lại. Cách hiểu này xuất phát từ thực tiễn của chế định thừa kế theo quy định của pháp luật, theo đó khái niệm di sàn là một cách diễn giải quan hệ pháp luật về thừa kế đối với việc chuyển dịch tài sản của người chết để lại cho những người còn sống. Chính cách giải nghĩa này có thể cho chúng ta thấy được sự tương đồng về mặt ngừ nghĩa của thuật ngữ Di sản và Di sản thừa kế. Cũng giải thích về thuật ngữ “Di sản”, Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam đã được ra khái niệm rằng, Di sản được hiểu là tài sản, bao gồm cả các tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, các khoản thu nhập hợp pháp khác của người chết để lại, như: toàn bộ những tài sản thuộc sở hữu của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác, quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại [38, tr.
Người chết không những để lại các quyền về tài sản như quyền đòi nợ, quyền đòi bồi thường thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe,. mà còn có thế để lại cả những nghĩa vụ tài sản như phải trả nợ, phải trả công lao động hoặc bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, người thừa kế chỉ phải thực hiên nghĩa vụ trong phạm vi Di sản mà mình đã nhận được. Trong trường họp vợ hoặc chồng chết thì một nừa tài sản chung của vợ chồng thuộc về di sản của người chết.
Với cách giải thích này, thuật ngữ Di sản cũng đã được hiểu và đặt trong quan hệ pháp luật về thừa kế, theo đó Di săn chính là toàn bộ các tài sản, nghĩa vụ tài sản của người chết để lại. Ở nước ta, Bộ Quốc triều hình luật, Bộ luật Gia Long thời kỳ Nhà nước phong kiến và cả Bộ dân luật Bắc kỳ, Bộ dân luật Trung kỳ thời kỳ Pháp thuộc đều không đưa ra quy định di sản là gì. Nguyên nhân có lẽ là do trong 9 các Bộ luật trên, Nhà nước đêu đã thừa nhận chê độ sở hữu của cá nhân vê đât đai tồn tại song song với các hình thức sở hữu khác. Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, chế độ sở hừu của cá nhân có những đặc thù và thay đổi phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhất định, nguyên nhân là do điều kiện về chính trị, lịch sử ảnh hưởng đến ý thức hệ tư tưởng pháp luật thời kỳ này.
Thông tư số 594-NCPL ngày 27-8-1968 xác định: “Di sản thừa kế bao gồm không những quyền sở hữu cá nhăn về những tài sán mà người chết đó đê lại mà còn gồm cả những quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản phát sinh do quan hệ hợp đồng hoặc do việc gãy thiệt hại mà người chết đề lại Theo quy định tại Phần II Thông tư số 81-TANDTC ngày 24 -7- 1981 của Toà án nhân dân tối cao hướng dần giải quyết các tranh chấp về thừa kế thì di sản thừa kế bao gồm: - Các tài sản thuộc quyền sở hữu của người để thừa kế về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt và những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ. - Các quyền về tài sản mà người để thừa kế được hưởng theo quan hệ hợp đồng hoặc do được bồi thường thiệt hại. - Các nghĩa vụ về tài sản của người để thừa kế phát sinh do quan hệ hợp đồng, do việc gây thiệt hại hoặc do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Ví dụ: Một món nợ, một khoản bồi thường thiệt hại V.