Chương 1 KHÁI NIỆM QUYỀN THỪA KẾ VÀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC 1. KHÁI NIỆM QUYỀN THỪA KẾ 1. Quyền thừa kế theo nghĩa khách quan Quyền thừa kế theo nghĩa khách quan là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Các quy phạm pháp luật về thừa kế thể hiện ý chí của Nhà nước, do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm bảo vệ các quan hệ nảy sinh trong việc định đoạt tài sản của cá nhân bằng di chúc, nhận di sản và việc phân chia di sản theo quy định của pháp luật.
Vấn đề thừa kế trước đây chủ yếu được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức nhưng do tính chất quan trọng và sự phát triển ngày càng phức tạp của quan hệ này mà Nhà nước cần phải can thiệp bằng các quy phạm pháp luật. Theo đó, Nhà nước đưa ra quy định, các chủ thể trên cơ sở các quy định đó thể hiện ý chí của mình; pháp luật cho phép các chủ thể tự do bày tỏ ý chí, tự do thoả thuận các vấn đề có liên quan nhưng sự tự do ấy phải trong khuôn khổ pháp luật. Chế định về thừa kế đã được quan tâm từ rất sớm ngay từ khi Nhà nước bắt đầu có các văn bản luật thì vấn đề thừa kế đã được nhắc đến. Các quy định ban đầu tuy đơn giản nhưng là tiền đề cho sự phát triển chế định về thừa kế về sau.
Tại BLDS 2005 các vấn đề về thừa kế quy định tại phần thứ tư, bao gồm từ chương XXII đến chương XXV; Trong đó chương XXII: Những quy định chung, chương XXIII: Thừa kế theo di chúc, chương XXIV: Thừa kế theo pháp luật, chương XXV: Thanh toán và phân chia di sản 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chế định thừa kế quy định có hai cách để định đoạt phần di sản của người chết cho người khác còn sống: người có tài sản lập di chúc để định đoạt tài sản hoặc theo một trình tự nhất định của pháp luật. Tương ứng với hai cách đó, có hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Với quy định như vậy pháp luật dân sự trước hết tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể, chủ thể có quyền lập di chúc định đoạt tài sản theo ý chí của mình. Khi người lập di chúc chết đi thì phần di sản được định đoạt trong di chúc sẽ được phân chia cho những người thừa kế (là những người được người lập di chúc định đoạt tài sản cho, người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc) theo đúng ý chí của người lập di chúc.
Nếu trong trường hợp không có di chúc, di chúc không hợp pháp hay trường hợp khác theo quy định của pháp luật thì khi đó pháp luật mới tham gia điều chỉnh để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lập di chúc, những người thừa kế và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Chia thừa kế theo pháp luật di sản được chia đều cho những người thừa kế. Người thừa kế là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng (phạm vi những người này được gọi là diện thừa kế); Diện những người thừa kế được xếp thành hàng thừa kế, có ba hàng thừa kế: - Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; - Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. - Hàng thừa kế thứ ba bao gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi phân chia di sản thừa kế tuân theo nguyên tắc: Di sản thừa kế chỉ được chia cho một hàng thừa kế theo thứ tự ưu tiên 1,2,3; Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Chế định về quyền thừa kế là một trong số những chế định quan trọng trong BLDS năm 2005. Các quy định về thừa kế được quy định tại Phần thứ IV BLDS năm 2005, từ Đ631 đến Đ687. Theo sự phát triển của pháp luật Việt Nam, các quy phạm pháp luật dân sự đã có nhiều thay đổi theo các giai đoạn lịch sử, theo đó các chế định về quyền thừa kế cũng thay đổi theo.
Sự sửa đổi, bổ sung các chế định trong các bộ luật dân sự nói chung và các chế định về quyền thừa kế nói riêng là sự kế thừa các quy định của giai đoạn trước có sửa đổi, bổ sung. Quyền thừa kế theo nghĩa chủ quan Quyền thừa kế theo nghĩa chủ quan là quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản. Quyền thừa kế của chủ thể là khả năng xử sự của các chủ thể quan hệ pháp luật thừa kế được quy phạm pháp luật về thừa kế quy định và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Quyền chủ quan này phải phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng.
Quyền thừa kế là một trong những quyền được pháp luật bảo vệ, nó gắn liền với mỗi cá nhân. Pháp luật Việt Nam luôn ghi nhận quyền năng này của các chủ thể. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật (Đ631 BLDS năm 2005). Các cá nhân cũng có quyền bình đẳng về thừa kế không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ văn hoá, nghề nghiệp và bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ mà người chết chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong trong phạm vi di sản nhận… Khi xem xét về thừa kế thì di sản là một trong những vấn đề được quan tâm trước tiên.
Di sản là cơ sở để thiết lập di chúc bên cạnh các căn cứ khác. Tài sản của người chết để lại được gọi là di sản, chỉ khi di sản còn tồn tại trên thực tế thì người lập di chúc mới có “cái” để định đoạt. Di sản phải là tài sản thuộc sở hữu của người để lại thừa kế (bao gồm tài sản riêng và phần tài sản riêng trong khối tài sản chung với người khác) với đầy đủ các quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản đó. Sau khi tài sản được dịch chuyển cho người còn sống đồng thời quyền sở hữu cũng được chuyển giao theo quy định của pháp luật.
Việc nhận được tài sản cũng đồng thời với việc nhận các nghĩa vụ về tài sản của người lập di chúc (nếu có). Khi còn sống người lập di chúc có những nghĩa vụ về tài sản (nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ trả nợ…) mà chưa thực hiện được hay thực hiện nhưng chưa xong thì người nhận thừa kế phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hay thực hiện phần nghĩa vụ đó trong phạm vi di sản thừa kế. Quyền của người lập di chúc được thể hiện ở việc tự do ý chí đối với việc dịch chuyển tài sản của mình, pháp luật tôn trọng và bảo đảm cho sự tự do định đoạt đó. Quyền của người thừa kế là quyền nhận hoặc không nhận di sản.
Đi kèm với quyền nhận di sản thì người thừa kế cũng có thể phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại. Trong trường hợp một người từ chối quyền nhận di sản cũng đồng nghĩa với việc người đó được loại bỏ nghĩa vụ thực hiện các nghĩa vụ về tài sản đó. Tuy nhiên pháp luật cũng hạn chế quyền của người nhận di sản trong một số trường hợp như: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản… Những người này cho dù thuộc diện thừa kế cũng không được quyền thừa kế. Những người được thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi.
Cho dù người đó có hay không có năng lực hành vi hay năng lực hành vi không đầy đủ đều có quyền thừa kế. Trong trường hợp như vậy thì cần có người giám hộ, người giám hộ sẽ thực hiện giúp những người này các quyền và nghĩa vụ trong phạm vi tài sản của họ. KHÁI NIỆM THỪA KẾ THEO DI CHÚC VÀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG 1.Khái niệm thừa kế theo di chúc 1. Di chúc Như đã đề cập ở trên, có hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
Chỉ khi người chết có để lại di chúc định đoạt di sản, di chúc đó hợp pháp thì khi đó mới có thể đề cập tới việc thừa kế theo di chúc. Theo quy định của luật Dân sự: “di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.[12] Trên thực tế, di chúc không phải lúc nào cũng nhằm dịch chuyển tài sản thuộc sở hữu của người lập di chúc cho người khác. Di chúc có thể thể hiện một mong muốn, ý nguyện nào đó của người lập di chúc. Nội dung di chúc trong trường hợp này thường là những lời căn dặn người còn sống cách sống, cách đối xử với nhau, giao các nghĩa vụ đạo đức… Mặc dù không nhằm chuyển dịch bất cứ loại tài sản nào của người lập di chúc nhưng loại di chúc này có ý nghĩa nhất định (đặc biệt là về mặt tinh thần) đối với những người còn sống.