PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng với xu thế “toàn cầu hoá”, nền kinh tế mở cửa và hội nhập đã làm cho nhiều mối quan hệ giữa các quốc gia được thiết lập rộng rãi. Đây là một bước tất yếu trong quá trình phát triển đối với các nước lạc hậu và đang phát triển để có thể trở thành một nhà sản xuất lớn. Từ đó, Việt Nam đã có thêm nhiều cơ hội để khẳng định bản thân với các nước bạn bè từ các lĩnh vực văn hoá, chính trị cho tới kinh tế.
Trong đó chuỗi giá trị toàn cầu luôn là một vấn đề được nhắc đến thường xuyên trong các kế hoạch, chiến lược phát triển trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Trong xu hướng toàn cầu hoá ấy, sẽ dần chẳng còn chỗ cho những sản phẩm hoàn thành từ a tới z tại một địa điểm, mà nó sẽ thay thành chuỗi quá trình tạo ra giá trị toàn cầu với ba phân khúc rõ ràng: nghiên cứu, sản xuất và thương mại. Mỗi sản phẩm được phát triển có một giá trị bao gồm một loạt các giá trị được kết nối với nhau. Công đoạn thiết kế của ngành dệt may toàn cầu chủ yếu được hoàn thiện ở những nước công nghiệp phát triển, các kinh đô thời trang thế giới như Paris, London, NewYork.
Nguyên liệu vải thường được sản xuất tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Khâu sản xuất cuối cùng sẽ được sản xuất tại những nơi có chi phí lao động rẻ như Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia. Sau đó, sản phẩm hoàn thiện sẽ được đưa trở lại thị trường do các công ty, doanh nghiệp danh tiếng bán ra. Trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, thiết kế luôn là lĩnh vực có giá trị sinh lời cao nhất trong chuỗi, tiếp theo là cung cấp nguyên liệu và kinh doanh.
Tuy nhiên, Việt Nam lại có giá trị gia tăng thấp nhất vì chỉ tham gia và khâu gia công của chuỗi giá trị. Chính vì vậy, mặc dù các sản phẩm may mặc của Việt Nam đã được xuất khẩu đi đến nhiều nước dệt may lớn trên thế giới, nhưng giá trị lợi nhuận thu về được lại rất thấp. Trong hai thập kỷ trở lại đây, ngành dệt may Việt Nam đang có những sự tăng trưởng vượt bậc về cả chất và lượng, có những bước phát triển mạnh mẽ trở thành ngành xuất khẩu đứng thứ hai sau dầu thô và là top ngành xuất khẩu chủ lực của 1 Việt Nam. Bên cạnh đó, ngành dệt may cũng là ngành thu hút FDI lớn thứ hai tại Việt Nam.
Theo Bộ Công Thương, năm 2021 ngành dệt may về đích với 40 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 11,2% so với năm trước. Tuy nhiên, xét về thị phần, dệt may Việt Nam chưa có nhiều sự cải thiện. Năm 2021, thị trường dệt may đang khởi sắc, đã bước dần qua được thời kỳ khó khăn của năm 2020 do tình hình dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, theo Hiệp hội Dệt may Việt nam với kịch bản tích cực nhất thì tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may của Việt Nam đã cán mốc 42-43,5 tỷ USD [24]. Song hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, ngành dệt may là một trong những ngành đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, mở ra những cơ hội to lớn cho tất cả các nước đặc biệt là những nước đang trên đà phát triển.
Để tận dụng được cơ hội này, các nước phải tiến hành hội nhập một cách nhanh chóng, hiệu quả và phù hợp, từ đó hình thành được những mối liên kết, bổ trợ và phụ thuộc lẫn nhau trên nhiều phương diện. Chính phủ nhận thấy được tiềm lực, tốc độ tăng trưởng và mở rộng của ngành nên rất chú trọng thúc đẩy ngành dệt may và các mặt hàng xuất khẩu khác để đẩy mạnh nền kinh tế đất nước. Một trong số đó là hoạt động xuất khẩu hàng gia công của Việt Nam, nhưng do không tự chủ được nguồn cung nên giá trị gia tăng còn thấp. Hơn thế, năng lực cạnh tranh chính của ngành dệt may Việt Nam là nguồn lao động giá rẻ dồi dào, khi mà người mua trên thế giới đang đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng, số lượng sản phẩm may mặc đã tạo nhiều áp lực cho ngành dệt may, buộc Việt Nam phải xây dựng những lợi thế cạnh tranh mới với mức độ thâm dụng tri thức cao hơn để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đây là một sự kiện đáng mừng của Việt Nam khi mà ngành dệt may của nước nhà đang không ngừng phát triển trong môi trường hội nhập kinh tế thế giới. Trước những thành quả to lớn và đáng tự hào đó của Việt Nam, sinh viên đã quyết định chọn đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình là “Cơ hội và thách thức cho ngành dệt may Việt Nam khi tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu” với mục đích phân tích để làm rõ được những cơ hội của ngành dệt may trong xu hướng của thị 2 trường dệt may quốc tế, từ đó chỉ ra những khó khăn, thuận lợi của Việt Nam và đưa ra những giải pháp thích hợp để nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế 2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu của bài luận là nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu của nền dệt may Việt Nam, từ đó tìm ra được những thách thức, cơ hội cũng như những biện pháp để nâng cao chuỗi giá trị may mặc toàn cầu của Việt Nam. Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đề ra, khoá luận tập trung trả lời 3 câu hỏi như sau: Vì sao ngành dệt may Việt Nam cần phải tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ? Vị trí hiện tại của ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu ? Ngành dệt may của Việt Nam cần phải làm gì để tận dụng được những cơ hội và thách thức khi tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ? 3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu của khóa luận Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là tìm ra những cơ hội và thách thức của ngành dệt may Việt Nam khi tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và từ đó tìm ra được những giải pháp phù hợp để khẳng định giá trị của bản thân trên trường quốc tế. Phạm vi nghiên cứu Không gian: Khoá luận tốt nghiệp đi sâu vào nghiên cứu chuỗi giá trị toàn cầu trong lĩnh vực dệt may và ngành dệt may Việt Nam. Từ đó tập trung phân tích chủ yếu các hoạt động xuất nhập khẩu của ngành dệt may Việt Nam.
Thời gian: Các số liệu, sự kiện trong bài khóa luận tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2016-2021. Lý do tác giả chọn đề tài này vì từ những năm 2016 trở lại đây ngành công nghiệp dệt may có nhiều biến động, đặc biệt do ảnh hưởng của đại dịch covid 19. Thêm vào đó với khoảng thời gian trên cũng đủ để đánh giá được những cơ hội và 3 thách thức của ngành dệt may Việt Nam khi tham gia vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Phƣơng pháp nghiên cứu Khoá luận sẽ sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu kết hợp để có được kết quả cuối cùng: Phương pháp thu thập tài liệu: Sinh viên sử dụng phương pháp thu thập tài liệu để lấy thông tin từ nhiều nguồn thông tin đáng tin cậy khác như: Tổng cục thống kê, Bộ Công Thương, các tạp chí kinh tế từ trong và ngoài.
Phương pháp thống kê và phân tích số liệu: Sinh viên thực hiện thống kê số liệu từ những nguồn thông tin thứ cấp có độ tin cậy cao, từ đó đưa ra những phân tích, đánh giá của bản thân để đạt được mục đích. Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh tình hình xuất nhập khẩu, sản xuất hàng hoá của ngành dệt may Việt Nam qua các năm và so với mô hình chuỗi giá trị dệt may toàn cầu, từ đó xác định được những cơ hội và thách thức của ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Phương pháp xử lý thông tin: Thông tin sẽ được sử dụng trực tiếp thông qua các công cụ như: sơ đồ, bảng biểu, đồ thị.và từ đó đánh giá quy mô, bản chất và các xu hướng thay đổi của sự phát triển của thị trường xuất khẩu may mặc Việt Nam theo không gian và thời gian. Kết cấu nội dung của khóa luận Nội dung của khoá luận bao gồm 4 chương chính được trình bày theo thứ tự sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Chƣơng 3: Cơ hội và thách thức của ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu Chƣơng 4: Hàm ý chính sách tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu cho ngành dệt may Việt Nam 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Những nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu Vào những năm 1990 của thế kỷ XX, Michael Porter đã đặt ra cụm từ “chuỗi giá trị toàn cầu”. Nhiều nhà khoa học, trong đó có Raphael Kaplinsky, Đại học Duke…đã nghiên cứu về đề tài này. Chủ đề chuỗi giá trị toàn cầu luôn là một chủ đề nóng bỏng và nhận được nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, với vị trí và vai trò rất quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đã có rất nhiều bài nghiên cứu và luận văn được thực hiện tại Việt Nam và với mỗi bài nghiên cứu là một cách tiếp cận vấn đề khác nhau, khía cạnh nghiên cứu và phạm vi đối tượng khác nhau.
Dưới đây là một số sách và bài báo nghiên cứu về chuỗi giá trị: Tác giả Michael Porter (1985) đã chỉ ra về mặt cấu trúc gồm 2 nhóm hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ trong khái niệm chuỗi giá trị. Trong đó, nhóm hoạt động chính bao gồm vận chuyển đầu vào, Vận hành, Vận chuyển đầu ra, Tiếp thị - Bán hàng và Dịch vụ là những hoạt động chính, với nhiều hoạt động hỗ trợ như mua hàng, quản lý nguồn nhân lực, công nghệ và cơ sở hạ tầng [3] Tác giả Gary Gereffi và Olga Memedovic (2003) trong bài nghiên cứu “The Global Apparel Value Chain: What Prospects for Upgrading by Developing Countries?” đã xây dựng ra một khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu và ứng dụng giải thích những chuyển đổi mới lạ trong sản xuất, thương mại và chiến lược doanh nghiệp đã được thay đổi trong ngành công nghiệp may mặc [1].