Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km trải dài qua 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giữ vị trí chiến lược đặc biệt về phát triển kinh tế biển và an ninh quốc phòng. Theo các báo cáo đánh giá của Ngân hàng Thế giới và Bộ Tài nguyên và Môi trường, nếu mực nước biển dâng thêm 1m, nước ta đối mặt với nguy cơ tổn thất khoảng 17 tỷ USD mỗi năm, tương đương gần 10% GDP quốc gia, làm ngập hơn 12,3% diện tích đất canh tác ven biển và đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của gần 20% dân số. Trong bức tranh tổng thể đó, thành phố Hải Phòng nói chung và huyện đảo Cát Hải nói riêng thuộc nhóm địa bàn chịu rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu nặng nề nhất khu vực Đồng bằng sông Hồng.
Huyện Cát Hải gồm đảo Cát Hải và quần đảo Cát Bà, giữ vị trí then chốt tiền tiêu vùng Đông Bắc. Đảo Cát Hải có địa hình trũng thấp, nằm biệt lập ngoài biển nên thường xuyên đối mặt với triều cường, bão lớn và xâm nhập mặn. Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cấp bách: đánh giá mức độ tổn thương của hệ sinh thái ven bờ và hệ thống sinh kế cộng đồng, từ đó đề xuất các giải pháp sinh kế thích ứng trong bối cảnh địa phương đang chuyển dịch mạnh mẽ từ quy hoạch kinh tế truyền thống (nông - lâm - thủy sản, làm muối) sang phát triển công nghiệp nặng và cảng biển nước sâu quốc tế.
Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm rõ xu thế biến đổi các yếu tố khí hậu trong chuỗi thời gian 30 năm, phân tích tác động tiềm tàng của nước biển dâng đối với 3 xã, thị trấn trọng điểm gồm xã Hoàng Châu, xã Văn Phong và thị trấn Cát Hải. Thông qua việc lượng hóa năng lực chống chịu và đánh giá 5 nguồn vốn sinh kế, đề tài xây dựng lộ trình can thiệp hỗ trợ cộng đồng chuyển đổi cơ cấu sản xuất, góp phần hoàn thiện Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu của địa phương giai đoạn 2015 - 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ khoa học dựa trên việc kết hợp đa chiều giữa lý thuyết hệ sinh thái, lý thuyết xã hội học và kinh tế học phát triển:
- Tiếp cận thích ứng dựa vào hệ sinh thái (EbA): Dựa trên khung khuyến nghị của Công ước Đa dạng sinh học và Ngân hàng Thế giới năm 2010. Tiếp cận này nhìn nhận các hệ sinh thái ven biển (như rừng ngập mặn, bãi triều) lưu trữ trên 50% lượng carbon hữu cơ toàn cầu, đóng vai trò đệm giảm nhẹ rủi ro thiên tai, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và cung cấp dịch vụ môi trường thiết yếu cho đời sống cư dân đảo.
- Khung sinh kế bền vững của DFID (Bộ Phát triển Quốc tế Anh): Đánh giá tính bền vững của hộ gia đình thông qua 5 nguồn vốn nền tảng gồm vốn tự nhiên (đất đai, mặt nước bãi triều), vốn tài chính (tiết kiệm, thu nhập, tín dụng), vốn con người (trình độ kỹ thuật, sức khỏe lao động), vốn vật chất (tàu thuyền, nhà xưởng, hạ tầng thoát nước) và vốn xã hội (mạng lưới hợp tác xã, hiệp hội nghề nghiệp).
- Lý thuyết tính chống chịu sinh thái - xã hội (Resilience): Vận dụng mô hình của Holling (1973) và Trương Quang Học (2013), định nghĩa tính chống chịu là khả năng hấp thụ các xung lực, biến cố khí hậu cực đoan mà không bị suy thoái cấu trúc nền tảng, đồng thời duy trì năng lực thích ứng linh hoạt trước các áp lực quy hoạch phát triển.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn triển khai trong thời gian 11 tháng (từ tháng 12/2013 đến tháng 11/2014) với quy trình nghiên cứu liên ngành, phối hợp chặt chẽ giữa phân tích dữ liệu thứ cấp và khảo sát thực địa chuyên sâu:
- Nguồn dữ liệu khí tượng thủy văn: Khai thác chuỗi số liệu quan trắc khí hậu liên tục trong hơn 30 năm từ Trạm Khí tượng Thủy văn Phù Liễn và Trạm Hải văn Hòn Dáu, phục vụ phân tích xu thế biến đổi nhiệt độ, lượng mưa mùa khô, lượng mưa mùa mưa và độ dâng của mực nước biển.
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu thực hiện khảo sát định lượng trên cỡ mẫu 150 hộ gia đình tại 3 địa bàn (Hoàng Châu, Văn Phong, thị trấn Cát Hải). Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các nhóm ngành nghề chính: nuôi trồng thủy sản đầm bãi (45 hộ), khai thác hải sản ven bờ (35 hộ), làm muối truyền thống (30 hộ) và kinh doanh dịch vụ - thương mại nhỏ (40 hộ).
- Phương pháp phân tích: Sử dụng công cụ Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) kết hợp phân tích ma trận rủi ro hiểm họa 5x5, biểu đồ lịch mùa vụ, sơ đồ chuỗi nguyên nhân - hậu quả và ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT). Việc lựa chọn phương pháp hỗn hợp này cho phép lồng ghép tri thức bản địa phong phú của ngư dân với các kịch bản phát thải trung bình (B2) và phát thải cao (A2) của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích dữ liệu thực nghiệm và điều tra cộng đồng tại đảo Cát Hải mang lại những phát hiện quan trọng:
- Biến động nhiệt độ và thời tiết cực đoan: Chuỗi số liệu tại trạm Phù Liễn cho thấy nhiệt độ trung bình nhiều năm tại khu vực tăng khoảng 0,6°C trong 3 thập kỷ qua. Số đợt rét đậm, rét hại bất thường và các đợt nắng nóng gay gắt trên 37°C xuất hiện với tần suất dày hơn, làm giảm từ 15% đến 20% tỷ lệ sống của ấu trùng tôm, cua giống nuôi thả tại các đầm bãi ven đê.
- Xu thế mực nước biển dâng và ngập lụt: Số liệu trạm hải văn Hòn Dáu ghi nhận mực nước biển dâng trung bình khoảng 2,9 mm/năm. Theo kịch bản biến đổi khí hậu phát thải trung bình (B2), đến năm 2050 mực nước biển dâng có thể khiến trên 60% diện tích làm muối và nuôi thủy sản hạ triều của xã Hoàng Châu và Văn Phong đối mặt nguy cơ ngập lụt thường xuyên trong kỳ triều cường kết hợp bão biển.
- Tác động kép từ biến đổi khí hậu và chuyển dịch quy hoạch đất đai: Hiện trạng đất sản xuất muối và mặt nước thủy sản tại 3 xã (chiếm hơn 40% diện tích đất kinh tế toàn đảo năm 2013) đang bị thu hồi để nhường chỗ cho các dự án khu công nghiệp - cảng biển Đình Vũ - Cát Hải. Khảo sát cho thấy 68% hộ dân làm nghề muối truyền thống và 54% hộ nuôi thủy sản không có đất canh tác thay thế, rơi vào tình trạng thiếu việc làm và suy giảm nguồn thu nhập cố định trên 40%.
Thảo luận kết quả
Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan hóa qua biểu đồ xu thế khí hậu trạm Phù Liễn, bản đồ nguy cơ ngập lụt ứng với các kịch bản nước dâng 1m và bảng tổng hợp ma trận đánh giá 5x5 về mức độ tổn thương của cộng đồng. Kết quả thảo luận chỉ ra rằng tính dễ bị tổn thương cao của cư dân đảo Cát Hải không chỉ bắt nguồn từ sự khắc nghiệt của thiên tai, mà chủ yếu do các rào cản nội tại về năng lực thích ứng:
Nguồn vốn sinh kế của cộng đồng hiện phân bổ rất chênh lệch. Vốn con người còn hạn chế khi trên 75% lao động nông - ngư nghiệp chưa qua đào tạo nghề chuyên sâu, chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống. Khi đối mặt với việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang dịch vụ cảng biển, người dân thiếu kỹ năng thích ứng để chuyển đổi ngành nghề phù hợp. So sánh với các nghiên cứu của Badjeck và cộng sự (2010) tại các vùng duyên hải Đông Nam Á, sinh kế phụ thuộc vào đánh bắt và nuôi trồng thủy sản luôn nhạy cảm nhất trước các hiện tượng dao động nhiệt độ nước biển.
Bên cạnh đó, vành đai rừng ngập mặn tại Cát Hải đang chịu áp lực san lấp mặt bằng, làm suy giảm năng lực tự bảo vệ trước sóng gió bão cấp 10 - 12. Nếu không có các giải pháp can thiệp đồng bộ kết hợp giữa bảo tồn hệ sinh thái và hỗ trợ sinh kế phi nông nghiệp, mức độ tổn thương kinh tế của cộng đồng địa phương sẽ tiếp tục gia tăng trong thập kỷ tới.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm củng cố năng lực chống chịu và phát triển sinh kế bền vững cho người dân tại đảo Cát Hải, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:
- Chuyển đổi mô hình thủy sản sang nuôi đa loài thích ứng sinh thái: Khuyến khích các hộ nuôi thủy sản xã Hoàng Châu và Văn Phong chuyển từ độc canh tôm sang mô hình sinh thái kết hợp (cua - cá - rong câu) hoặc nuôi ốc, tu hài lồng bè công nghệ cải tiến. Mô hình này giúp giảm 35% rủi ro dịch bệnh do thay đổi nhiệt độ nước biển, nâng cao 25% giá trị lợi nhuận ròng trên một đơn vị diện tích vào năm 2018 dưới sự hướng dẫn kỹ thuật của Phòng Nông nghiệp huyện Cát Hải và Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD).
- Thành lập mạng lưới thông tin cảnh báo sớm và quỹ hỗ trợ tài chính vi mô: Thiết lập hệ thống trạm thông tin cảnh báo thiên tai đến từng thôn xóm, đảm bảo 100% hộ dân nhận bản tin dự báo khí tượng trước 24 đến 48 giờ. Đồng thời, xây dựng quỹ tín dụng xoay vòng vốn ưu đãi với quy mô ban đầu khoảng 500 triệu đồng/xã, do Hội Nông dân và Hội Phụ nữ quản lý nhằm hỗ trợ ngư dân mua sắm ngư lưới cụ chịu bão.
- Đào tạo nghề và chuyển dịch lao động sang dịch vụ hậu cần cảng: UBND huyện Cát Hải cần phối hợp với các doanh nghiệp thuộc Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn (vận hành máy, bảo dưỡng cơ khí, dịch vụ logistics, du lịch sinh thái) cho ít nhất 600 lao động dôi dư do thu hồi đất làm muối và đầm bãi trong giai đoạn 2016 - 2020.
- Tích hợp thích ứng biến đổi khí hậu vào quy hoạch phát triển đô thị - sinh thái: Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng cần phối hợp chặt chẽ với Ban Quản lý Khu Dự trữ Sinh quyển Quần đảo Cát Bà để khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các dải rừng ngập mặn phòng hộ còn lại, thực hiện đánh giá môi trường chiến lược định kỳ 3 năm một lần cho các dự án san lấp lấn biển.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả thực nghiệm của đề tài là nguồn tài liệu giá trị cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
- Cán bộ hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Biển và Hải đảo, UBND huyện Cát Hải có thể sử dụng số liệu ma trận tổn thương để xây dựng các kịch bản phòng chống thiên tai và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất địa phương.
- Các chuyên gia và nhà nghiên cứu học thuật: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Quản lý tài nguyên, Sinh thái học nhân văn và Phát triển nông thôn tìm thấy khung phương pháp luận kết hợp EbA và DFID rõ ràng để ứng dụng vào các nghiên cứu tương tự ở dải ven biển Việt Nam.
- Các tổ chức phát triển phi chính phủ (NGOs): Các tổ chức như MCD, World Vision, UNDP, IUCN có nguồn cơ sở dữ liệu thực địa tin cậy để xây dựng các dự án tài trợ phát triển cộng đồng, nâng cao quyền năng cho phụ nữ và nhóm cư dân yếu thế ven biển.
- Ban quản lý các Khu dự trữ sinh quyển ven biển: Cán bộ quản lý tại Cát Bà, Cần Giờ, Kiên Giang có thể tham khảo phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân (PRA) để thúc đẩy mô hình đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên gắn với sinh kế xanh.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao đảo Cát Hải lại có tính nhạy cảm cao trước biến đổi khí hậu? Đảo Cát Hải có cao trình tự nhiên rất thấp, nằm ở vị trí cửa biển đón gió bão vùng Đông Bắc. Khi mực nước biển dâng kết hợp triều cường trên 3,5m, phần lớn diện tích đất sản xuất nông nghiệp, diêm nghiệp và nuôi trồng thủy sản đều bị ngập chìm, gây hư hại hạ tầng ven bờ và đe dọa trực tiếp đời sống của hàng nghìn hộ dân.
-
Tiếp cận dựa vào hệ sinh thái (EbA) mang lại lợi ích gì cho Cát Hải? EbA sử dụng chính các dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là vành đai rừng ngập mặn và bãi bồi ven biển, để làm đê chắn sóng tự nhiên, giảm thiểu trên 50% chi phí xây dựng công trình đê kè cứng tốn kém, đồng thời tạo môi trường ươm giống thủy sản tự nhiên cho người dân đảo.
-
Quy hoạch kinh tế mới ảnh hưởng như thế nào đến sinh kế truyền thống? Việc xây dựng cụm công nghiệp - cảng nước sâu chuyển đổi hơn 35% diện tích mặt nước bãi triều và ruộng muối. Sự suy giảm tư liệu sản xuất truyền thống này khiến nhiều hộ gia đình mất kế sinh nhai chính trong khi chưa kịp trang bị kỹ năng tay nghề để gia nhập thị trường lao động công nghiệp.
-
Khung sinh kế bền vững DFID đánh giá những khía cạnh nào trong luận văn? Khung DFID lượng hóa 5 nguồn vốn cơ bản của hộ gia đình: tự nhiên, vật chất, tài chính, con người và xã hội. Qua đó, luận văn chỉ ra rõ vốn con người và vốn tài chính là hai điểm nghẽn lớn nhất kìm hãm năng lực tự thích ứng của người dân trước các cú sốc khí hậu.
-
Đâu là giải pháp sinh kế có tính khả thi nhất cho cư dân làm muối tại xã Hoàng Châu? Giải pháp khả thi nhất là chuyển đổi sang mô hình nuôi thủy sản sinh thái nước lợ đầm nông kết hợp dịch vụ hậu cần cảng. Mô hình này phù hợp với sự thay đổi của nguồn nước, mang lại thu nhập cao hơn nghề làm muối truyền thống từ 2 đến 3 lần và phù hợp với điều kiện vốn ban đầu của hộ dân.
Kết luận
- Luận văn đã phân tích toàn diện chuỗi số liệu khí tượng thủy văn 30 năm, khẳng định xu thế nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng đang tác động tiêu cực đến huyện đảo Cát Hải.
- Lượng hóa thành công mức độ tổn thương của hệ sinh thái - xã hội tại 3 địa bàn Hoàng Châu, Văn Phong và thị trấn Cát Hải dưới tác động kép của biến đổi khí hậu và chuyển đổi quy hoạch đất đai.
- Vận dụng thành công mô hình tích hợp khung sinh kế DFID và phương pháp thích ứng dựa vào hệ sinh thái (EbA) có sự tham gia tích cực của cộng đồng cư dân bản địa.
- Đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp sinh kế khả thi, tập trung vào nuôi trồng thủy sản sinh thái, chuyển đổi việc làm sang dịch vụ logistics và xây dựng cơ chế tài chính vi mô hỗ trợ hộ nghèo.
- Cung cấp mô hình điểm về thích ứng biến đổi khí hậu có khả năng nhân rộng hiệu quả cho các vùng ven biển và huyện đảo trên toàn quốc giai đoạn 2016 - 2020.
Để hiện thực hóa các giải pháp nêu trên, các cấp chính quyền địa phương cần nhanh chóng lồng ghép chỉ tiêu sinh kế thích ứng vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của huyện. Độc giả, nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách hãy khai thác và ứng dụng các kết quả nghiên cứu của luận văn nhằm góp phần xây dựng huyện đảo Cát Hải trở thành địa bàn phát triển bền vững và vững vàng trước biến đổi khí hậu.