CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CẤP NƯỚC TRONG NƯỚC VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát về tình hình cấp nước ở nước ta 1.1 Lịch sử phát triển Theo lịch sử ghi nhận, hệ thống cấp nước đô thị xuất hiện sớm nhất tại La Mã vào năm 800 TCN. Điển hình là công trình dẫn nước vào thành phố bằng kênh tự chảy. Trong thành phố nước được đưa đến các bể tập trung, từ đó theo đường máng dẫn đến các nhà quyền quí và bể chứa công cộng cho người dân sử dụng. Ba trăm năm trước công nguyên người ta đã biết khai thác nước ngầm bằng cách đào giếng.
Người Babilon có phương pháp nâng nước lên độ cao khá lớn bằng ròng rọc, guồng nước. Thế kỷ XIII, các thành phố ở châu Âu có hệ thống cung cấp nước. Thời đó chưa có các loại hóa chất làm keo tụ xử lý nước mặt. Người ta phải xây dựng các bể lắng có kích thước rất lớn.
Do đó, công trình cồng kềnh, chiếm diện tích và kinh phí xây dựng lớn. Vào những năm 1600 việc dùng phèn nhôm để làm keo tụ nước được các nhà truyền giáo Tây Ban Nha phổ biến tại Trung Quốc. Vào những năm 1800 các thành phố ở châu Âu, châu Mỹ đã có hệ thống cung cấp nước khá đầy đủ thành phần như công trình thu, trạm xử lý, mạng lưới, v.v… Năm 1810 hệ thống lọc nước cho thành phố được xây dựng tại Paisay- Scotlen. Năm 1908, việc khử trùng nước uống với qui mô lớn đã có tại Niagara Falls, phía Tây nam New York.
Từ thế kỷ XX, kỹ thuật cấp nước đã đạt tới trình độ cao và còn tiếp tục phát triển. Các loại thiết bị cấp nước ngày càng đa dạng, phong phú và hoàn thiện. Thiết bị dùng nước trong nhà luôn được cải tiến để phù hợp và thuận tiện cho người sử dụng tiết kiệm nước. Kỹ thuật điện tử và tự động hóa kết hợp với công nghệ thông tin cũng được sử dụng rộng rãi trong ngành cấp nước.
Có thể nói, cho đến nay kỹ thuật cấp nước đã đạt đến trình độ rất cao về công nghệ xử lý, máy móc, trang bị thiết bị và hệ thống cơ giới hóa, tự động hóa hiện đại hóa trong 4 vận hành, quản lý. Ở Việt Nam, hệ thống cung cấp nước đô thị được bắt đầu bằng việc khoan giếng mạch nông tại Hà Nội, Sài Gòn cũ vào năm 1894. Hiện nay, hầu hết các khu đô thị đã có hệ thống cung cấp nước. Nhiều trạm cấp nước cho các thành phố lớn đã áp dụng công nghệ tiên tiến và tự động hóa cao [10].2 Cấp nước sinh hoạt đô thị Tính đến năm 2016, cả nước có khoảng 100 doanh nghiệp cung cấp nước sạch, quản lý vận hành trên 500 hệ thống cấp nước tại các đô thị với tổng công suất cấp nước đạt hơn 7 triệu m3/ngày đêm; tỷ lệ dân cư thành thị được cung cấp nước qua hệ thống cấp nước tập trung đạt hơn 80%, tỷ lệ thất thoát, thất thu bình quân khoảng 25.5%; mức sử dụng nước sinh hoạt bình quân đạt 105 lít/người/ngày.
Mạng lưới đường ống cấp nước: Tổng chiều dài đường ống làm nhiệm vụ truyền tải và phân phối nước trên toàn bộ hệ thống cấp nước trong cả nước vào khoảng 15. Trong đó, có tới trên 30% đã được lắp đặt trên 30 năm. Ống cũ mục là vấn đề lớn nhất hiện nay của mạng lưới cấp nước các đô thị. Mạng lưới cấp nước hiện tại đáp ứng được 80% nhu cầu dùng nước.
Nhiều đường ống vẫn tiếp tục xuống cấp và hư hỏng. Tình trạng đục đấu trái phép đường ống vẫn chưa chấm dứt. Thêm vào đó, mạng lưới đường ống xây dựng trước đây phần lớn chưa có quy hoạch hợp lý, đồng bộ còn chồng chéo qua một số giai đoạn nâng cấp, cải tạo. Chất lượng ống không đồng đều, nhiều tuyến ống cũ đã xuống cấp nghiêm trọng xen kẽ với các đường ống mới lắp đặt, gây khó khăn cho công tác quản lý.
Thiết bị kỹ thuật sử dụng trên mạng lưới còn thiếu và lạc hậu. Các thiết bị trên mạng lưới như: van xả khí, van xả cặn, họng cứu hoả, gối đỡ, van khoá, đồng hồ khu vực còn thiếu và chưa đảm bảo chất lượng, lạc hậu. Các thiết bị điều khiển từ xa chưa được tăng cường, nên việc quản lý mạng lưới hầu hết mang tính chất thủ công. Chưa có nhiều giải pháp hữu hiệu trong quản lý và vận hành tự động hoá mạng lưới cấp nước.
Công suất thiết kế của một số nơi chưa phù hợp với thực tế: Nhiều nơi thiếu nước, nhưng cũng có đô thị thừa nước, không khai thác hết công suất, như tại một số thị xã chỉ khai thác khoảng 15-20% công suất thiết kế. 5 Áp lực nước: Chỉ có một số ít đô thị hiện nay cung cấp nước cho người dân đảm bảo áp lực và lưu lượng cho 24 giờ trong ngày. Còn lại, đa số các đô thị áp lực trong mạng lưới mới đạt được cấp nước cho tầng 1, còn các tầng cao phải sử dụng bơm và bồn. Chất lượng nước: Chất lượng nước cấp của các nhà máy nước hiện nay tuân thủ theo QCVN 01:2009/BYT với tổng số 109 chỉ tiêu xét nghiệm.
Ngoài Hà Nội và Hồ Chí Minh, các tỉnh/thành phố khác chưa có phòng thí nghiệm hoặc có nhưng không đủ các trang thiết bị để xét nghiệm 109 chỉ tiêu, nếu đầu tư các trang thiết bị thì đòi hỏi một nguồn kinh phí lớn để trang bị các máy móc, thiết bị cũng như hoá chất, nhân lực, đào tạo có thể gây biến động về giá nước do tăng chi phí xét nghiệm. Phần lớn nước cung cấp cho người dân chưa đạt tiêu chuẩn cho phép, một số chỉ tiêu lý, hoá và vi trùng còn cao hơn giới hạn cho phép (như: hàm lượng cặn, sắt, amôniăc, nitrit, coliform…). Hiện nay, vấn đề ô nhiễm nguồn nước đang gia tăng, đặc biệt là hàm lượng amôni xuất hiện và gia tăng trong nhiều nguồn nước, dẫn đến chất lượng nước ăn uống sinh hoạt ở nhiều đô thị chưa thể kiểm soát được. Ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân.
Tỷ lệ thất thoát thất thu nước còn cao như: Thái Bình (15-20%), Hà Nội (15%), TP. Hồ Chí Minh (18,2%), Nam Định (18%), Hà Tĩnh (24%), …. Quản lý cấp nước còn chịu thách thức do tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng nhanh, sự gia tăng dân số, sự tập trung, chuyển dịch dân số từ nông thôn vào thành thị, gây mất cân bằng, phá vỡ quy hoạch nên việc đầu tư phát triển cấp nước chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu, tỉ lệ dân cư thành thị được cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung còn thấp (chỉ có khoảng 80%), chất lượng dịch vụ cấp nước cũng chưa ổn định. Chất lượng nước của một số trạm cấp nước quy mô nhỏ tại khu đô thị mới, khu chung cư hay tại giếng khoan khai thác quy mô nhỏ lẻ còn hạn chế, chưa đạt yêu cầu quy định như: chỉ số clo dư thấp, ô nhiễm asen, amôni, chỉ tiêu vi sinh và một số chỉ tiêu khác.
Mạng lưới đường ống cấp nước đô thị trải qua nhiều giai đoạn đầu tư đã cũ, rò rỉ, gây tỷ lệ thất thoát nước cao, thậm chí có thể có sự xâm nhập của chất thải. Nguồn nước đã và đang bị suy thoái cả về chất lượng và trữ lượng. Nguồn nước mặt bị ô nhiễm do chất thải, nước thải sinh hoạt và đặc biệt là nước thải công nghiệp. Nước 6 dưới đất (nước ngầm) đang bị cạn kiệt do khai thác nước quá mức dẫn đến ô nhiễm nguồn nước, gây sụt lún.
Ngoài ra, do sự biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn đặc biệt trong mùa khô, nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cũng như đất canh tác, sản xuất nông nghiệp của người dân, các khu vực chịu ảnh hưởng mạnh là vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng duyên hải miền Trung. Giá nước sạch ở các đô thị được ban hành theo hướng tính đúng, tính đủ, nhưng nhìn chung giá nước còn thấp so với yêu cầu đặt ra. Giá bán nước sạch chưa bao gồm đầy đủ các chi phí đầu tư đảm bảo cấp nước an toàn, giảm thất thoát nước, khấu hao một số hạng mục đầu tư công trình; lợi nhuận doanh nghiệp thấp; việc điều chỉnh giá nước chưa phù hợp với sự biến động giá của thị trường. Nhìn chung, giá tiêu thụ nước sạch chưa thực sự khuyến khích được các doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư phát triển cấp nước.
Công tác khảo sát nguồn nước chưa sát với tình hình thực tế, chưa dự báo được những biến động về mặt trữ lượng cũng như về mặt thuỷ địa hoá. Công nghệ xử lý nước tại một số nhà máy nước chưa đồng bộ và hoàn chỉnh. Một số dự án công nghệ do tư vấn nước ngoài thiết kế chưa phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương 1.1 Điều kiện tự nhiên 1.1 Khái quát về lịch sử hình thành Theo sách “Gia Định thành công chí” của Trịnh Hoài Đức thì thời kỳ mở vùng đất Nam Bộ. Năm 1698, Dĩ An thuộc tổng Bình An, huyện Phước Long, dinh Trấn Biên.
Năm 1808, Dinh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hòa, huyện Phước Long nâng lên thành phủ Phước Long, tổng Bình An nâng thành huyện Bình An. 7 Năm 1832, nhà Nguyễn đổi Ngũ trấn thành Nam Kỳ lục tỉnh, trấn Biên Hòa thành tỉnh Biên Hòa (gồm 4 huyện: Phước Chánh, Bình An, Long Thành, Phước An), vùng đất Dĩ An thuộc huyện Bình An. Năm 1880, thực dân Pháp sắp xếp lại cơ cấu hành chính, vùng đất Dĩ An ngày nay một phần thuộc tỉnh Biên Hòa, một phần thuộc quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Thời kỳ 1954-1975, chính quyền Ngụy thành lập quận Dĩ An trực thuộc tỉnh Biên Hòa gồm các xã: Bình Trị, Tân Hiệp, An Bình, Tân Đông Hiệp, Bình An, Đông Hòa, Tân Hạnh, Hóa An.
Năm 1976, sáp nhập các tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Phước và xã An Bình, Bình An, Đông Hòa thuộc huyện Thủ Đức thành tỉnh Sông Bé. Tháng 3/1977, huyện Lái Thiêu và Dĩ An của tỉnh Sông Bé sáp nhập thành huyện Thuận An. Đến năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 58/1999/NĐ-CP (23/07/1999) và chính thức từ ngày 01/09/1999.2 Vị trí địa lý Dĩ An là một thị xã thuộc phía Nam của tỉnh Bình Dương, tiếp giáp với hai thành phố là TP. Biên Hòa và TP.
Hồ Chí Minh. Đồng thời cũng là cửa ngõ quan trọng để đi các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh phía Bắc. Thị xã Dĩ An có tổng diện tích đất tự nhiên là 60.2% diện tích tự nhiên của tỉnh Bình Dương.