phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu này gồm có 3 chương chính. Chương một: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương này sẽ tiến hành trình bày (1) làm rõ các khái niệm về tộc người, văn hóa tộc người, hôn nhân, các hình thức của hôn nhân, giao lưu tiếp biến văn hóa và toàn cầu hóa; (2) làm rõ vài nét về tộc người Java, địa bàn nghiên cứu cũng như các yếu tố tác động đến quan niệm hôn nhân (Tôn giáo, địa bàn cư trú, tiếp xúc tộc người, …). 6 Chương hai: Quan niệm hôn nhân theo tôn giáo và truyền thống Java ở Indonesia.
Trong chương này sẽ nghiên cứu (1) quan niệm hôn nhân theo tôn giáo ở Indonesia; (2) quy định của pháp luật Indonesia về hôn nhân; (3) quan niệm hôn nhân truyền thống Java; Chương ba: Quan niệm của giới trẻ Java về hôn nhân hiện nay. Trong chương này sẽ nghiên cứu (1) quan niệm của giới trẻ về hôn nhân; (2) quan niệm của giới trẻ về các hiện tượng mới trên thế giới; (3) các yếu tố làm thay đổi quan niệm hôn nhân của giới trẻ Java. 7 CHƢƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Tộc người và văn hóa tộc người 1.
Khái niệm tộc người Tộc người theo nghĩa rộng là một loại hình cộng đồng người. Tộc người theo nghĩa hẹp là tổng hợp những con người được hình thành về mặt lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, dưới một cái tên tự gọi (tộc danh), có những đặc điểm chung tương đối bền vững về văn hóa và tâm lí (trong đó nổi trội là ngôn ngữ); có ý thức về sự thống nhất của họ cũng như sự khác nhau giữa họ với các tộc người khác (nói ngắn gọn là ý thức tộc người). 1 Trong 3 yếu tố: ngôn ngữ, lãnh thổ và ý thức tộc người gắn với tộc danh thì yếu tố thứ ba có vai trò đặc biệt. Ý thức tự giác của tộc người gắn với tộc danh không chỉ là là yếu tố cần thiết mà còn là yếu tố đấy đủ cho bản sắc hóa tộc người.
Khi có dấu hiệu thay đổi về ý thức tự giác của tộc người thì sẽ xuất hiện dấu hiệu thay đổi thành phần tộc người. Ở góc độ triết học, vấn đề tộc người không chỉ gói gọn trong quá trình thu thập, phân tích các dữ liệu nhân chủng học một cách trực quan mà còn phải nghiên cứu những nhân tố tự nhiên và lịch sử xã hội để làm rõ quá trình phát sinh của một tộc người. Tộc người với các hình thái kinh tế - xã hội như một cơ thể xã hội gồm tập thể những con người luôn thống nhất, có tên tự gọi (tên chính trị), chiếm một lãnh thổ nhất định (khởi nguyên là quyền sở hữu đất đai của một cộng đống) và cùng có những đặc điểm chung về ngôn ngữ và văn hóa. Lịch sử loài người với tính cách là tổng thể lịch sử của các cộng đồng.
Quá trình hình thành nhà nước trong lịch sử nhân loại khởi đầu từ tộc người đã được Mác và Ăngghen đề cập trong các tác phẩm của mình. Chẳng hạn như từ thị tộc, bộ tộc -> tập đoàn người (có sự khác nhau về sở hữu) -> giai cấp (đấu tranh giai cấp -> nhà nước Con người với tính cách là con người hiện thực, là chủ thể lịch sử có quá trình hình thành và phát triển gắn với sự biến đổi của các phương thức sản xuất trong những điều kiện địa lí tự nhiên nhất định. Chủ thể lịch sử khẳng định không gian sinh tồn của mình thông qua việc xác định chủ quyền lãnh thổ. Ở điểm xuất phát, do chưa bị phân hóa nên mọi sự vật hiện tượng đều chưa có sự phân 1 http://www.aspx?articleid=3384&sitepageid=656.
Truy cập ngày 09/01/2020. Qua quá trình vận động, những khác biệt dần dần lộ ra, từ đó dẫn đến những khoảng chênh về các giá trị. Lao động loài người cũng vậy. Hình thái kinh tế chiếm đoạt là phổ quát ở thời kì đầu tìm kiếm phương thức sống của nhân loại.
Sản phẩm thời kì này chủ yếu do thu lượm từ tự nhiên. Khi nhận thấy những bất ổn của hình thức săn bắt, hái lượm con người chuyển sang các hình thức kiếm sống khác phù hợp với môi trường mà họ đang cư trú. Do những lợi thế về mặt địa hình và khí hậu, người Phương Tây chọn lối sống chăn dắt bầy đàn còn người phương Đông chọn lối sống trồng trọt (gồm nông nghiệp khô và nông nghiệp lúa nước). Sản phẩm thời kì này thu được từ nền sản xuất dựa vào môi trường tự nhiên.
“Ngay từ xưa, đời sống của con người đã dựa vào sản xuất, dựa vào một kiểu nào đó của nền sản xuất xã hội”2. Nền sản xuất ở giai đoạn đầu tiên dù ở dạng này hay dạng khác thì cũng chỉ là nền sản xuất “tự nhiên”. Nhưng nó là tiền đề cho toàn bộ lịch sử nhân loại, bảo đảm sự tồn tại của cá nhân con người cho đến ngày nay. Cách tiếp cận từ góc độ triết học, lịch sử, xã hội cho thấy bản chất tộc người được hình thành trong các mối quan hệ cơ bản: nhà nước, dân tộc, kinh tế, văn hóa.
Đây là những mối quan hệ đồng thời cũng là những yếu tố tổng quát để xem xét bản chất tộc người. Trong quá trình vận động, các tộc người luôn có ý thức xây dựng, phát triển đồng thời giữ gìn, bảo vệ nhà nước, dân tộc (tộc danh và ý thức về tộc người), kinh tế, văn hóa của cộng đồng mình. Đó cũng chính là quá trình giữ gìn bản sắc của một hoặc nhiều cộng đồng người có chung tộc danh (cũng có thể là quốc hiệu). Thực tế cho thấy, việc giữ gìn tộc người trước hết là giữ gìn tộc danh và ý thức về tộc người.
Tức là những yếu tố thuộc lĩnh vực văn hoá, dân tộc chứ chưa phải lĩnh vực nhà nước. Văn hóa tộc người Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách sống động toàn bộ cuộc sống con người trong suốt quá trình lịch sử. Văn hóa tạo nên một hệ thống các giá trị truyền thống bao gồm thẩm mĩ và lối sống, từ đó từng dân tộc xây dựng nên bản sắc riêng của mình. Văn hóa là tất cả những gì con người đã bỏ công sức để tạo ra; nó khác với những gì tồn tại trong tự nhiên ngoài con người.
“Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị tinh thần và vật chất do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”4. Tư Bản, Phê phán khoa kinh tế chính trị. Sự Thật Hà Nội, tr.aspx?articleid=3384&sitepageid=656. Truy cập ngày 09/01/2020.
4 Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam. Hồ Chí Minh, tr. 9 cách là yếu tố cấu thành tộc người bao gồm tri thức, tín ngưỡng, đạo đức, nghệ thuật, luật pháp, tập quán, sinh hoạt … là sự thể hiện bản chất năng lực con người với tính cách là thành viên của cộng đồng xã hội.
“Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”5. Nghiên cứu văn hóa với tính cách là yếu tố cấu thành tộc người cần phải xem xét trên cả trục đồng đại và lịch đại. Với sự liệt kê đầy đủ danh mục các hiện tượng văn hóa của một tộc người cho phép chúng ta có những nhận định sơ bộ về văn hóa tộc người cũng như bản sắc văn hoá tộc người. Khi nói đến văn hóa tộc người là nói đến những khía cạnh tiêu biểu của tộc người đó tạo nên những nét khác biệt với văn hóa các tộc người khác.
Cũng cần thấy rằng văn hoá tộc người là một thực thể đa dạng và thống nhất. “Nếu coi thống nhất của văn hóa từ đa dạng, thì muốn củng cố sự thống nhất ấy, phải trên cơ sở bảo tồn và phát triển tính đa dạng của văn hóa, mà ở đây thể hiện rõ nhất là đa dạng văn hóa tộc người và văn hóa địa phương (văn hóa vùng). Sẽ không có sự thống nhất văn hóa nào vững chắc và lành mạnh lại dựa trên cơ sở thuần nhất hóa hay đơn nhất hóa văn hóa”6. Đời sống vật chất và đời sống tinh thần là hiện tượng phổ quát của các tộc người.
Mặt khác, sự vận động về mặt tinh thần và vật chất của chủ thể văn hoá luôn gắn với không gian thời gian cụ thể. Nhờ có quan hệ với tự nhiên và xã hội mà chủ thể văn hoá sáng tạo ra những sản phẩm có giá trị, đồng thời nhờ đó mà chủ thể có thể thể hiện mình trước tự nhiên và xã hội. Văn hoá là sự thể hiện mình theo một cách riêng, trong điều kiện lịch sử cụ thể của một chủ thể văn hoá. Văn hoá theo hướng này có nghĩa là nét đặc thù về phong cách sống của tộc người.
Nét đặc thù về phong cách sống của mỗi tộc người như là phương thức tái hiện những tập hợp tình cảm và lí trí nhằm khẳng định các giá trị chung của cộng đồng tộc người. Nói chung, nét đặc thù về phong cách sống là một biểu hiện của bản sắc văn hoá tộc người. 5 Hồ Chí Minh. Chính trị Quốc gia, Hà Nội t.
6 Ngô Đức Thịnh. Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. Hôn nhân và các loại hình hôn nhân 1.
Khái niệm hôn nhân Trên thực tế, có nhiều cách hiểu khác nhau về hôn nhân. Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người phụ nữ được gọi là vợ. Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, và hoặc tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân thường là kết quả của tình yêu nam nữ.
Dưới góc độ pháp luật căn cứ khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, khái niệm hôn nhân được hiểu là hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Trên cơ sở khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình hiện hành, hôn nhân được xem là kết quả của tình yêu, là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người phụ nữ được gọi là vợ. Đây là sự kết hợp giữa nam và nữ về tình cảm, xã hội, giới tính, tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa đàn ông và phụ nữ, cho phép nam nữ sống chung với nhau đồng thời đặt ra các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau.