Phần mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả tài chính – Các nhân tố tác động – Những nghiên cứu liên quan Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích định tính và định lượng Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 10 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH – CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG – NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Hiệu quả tài chính Hiệu quả tài chính (Performance) là một phạm trù kinh tế khá rộng, nó thể hiện sự phát triển tài chính của một doanh nghiệp theo chiều sâu. Ngoài ra, hiệu quả tài chính còn phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực tài chính bên trong doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu gia tăng giá trị doanh nghiệp, gia tăng giá trị cổ đông.
Hiệu quả tài chính là một khái niệm quan trọng trong nghiên cứu quản lý. Nó đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Hầu hết các nghiên cứu để đo lường hiệu quả đều đến từ lý thuyết quản lý chiến lược (Murphy và cộng sự, 1996). Hiệu quả tài chính đo lường trên cả phương diện tài chính và tổ chức.
Về phương diện tài chính có thể kể đến các mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên tài sản và tối đa hóa lợi ích của cổ đông, đó chính là những vấn đề then chốt của hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Venkatraman và Ramanujam (1986) cho rằng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là một khái niệm rộng gồm nhiều góc độ như tài chính, kinh doanh, tổ chức. Trong đề tài này, chỉ quan tâm đến góc độ tài chính thông qua hiệu quả tài chính của doanh nghiệp và có thể được đo lường bằng các chỉ số: ROA, ROE, ROS, GOI, Tobin’Q… Một phần lớn các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây đã cố gắng điều tra các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty. Nghiên cứu lý thuyết dựa trên lý thuyết kinh tế vi mô và cụ thể hơn về lý thuyết sản xuất của công ty (xem ví dụ Penrose, 1995).
Nghiên cứu thực nghiệm đã được phát triển xung quanh hai lĩnh vực quan tâm. Đầu tiên một số nhà nghiên cứu điều tra bằng cách đo lường hiệu suất tài chính của công ty. Đã có nhiều biện pháp khác nhau về hiệu quả tài chính. Ví dụ lợi nhuận trên doanh số bán hàng cho thấy số tiền mà một công ty kiếm được liên quan đến doanh thu của nó, lợi nhuận trên tài sản xác định khả năng 11 sử dụng tài sản và lợi tức trên vốn chủ sở hữu.
Ưu điểm của các biện pháp đo lường hiệu quả tài chính này là sự dễ dàng tính toán và các định nghĩa được thống nhất trên toàn thế giới. Theo truyền thống, sự thành công của một hệ thống sản xuất hoặc công ty đã được đánh giá bằng cách sử dụng các đo lường về tài chính (Tangen, 2003).1 trình bày tổng quan về các đánh giá hiệu quả tài chính. Các đo lường về hiệu quả tài chính Nghiên cứu Đo lường hiệu quả tài chính Cochran, Wood và Jones (1985) Lợi nhuận trên Tổng tài sản (ROA), Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu (ROE), Lợi nhuận cận biên, Tổng tài sản doanh nghiệp Kesner (1987) ROA, ROE Mallette và Fowler (1992) ROE Opler và Titman (1994) Tăng trưởng doanh thu, Tăng trưởng khả năng sinh lợi và Tỷ suất lợi nhuận của cổ phiếu Klassen và McLaughlin (1996) Lợi nhuận thị trường của cổ phiếu Hart và Ahuhja (1996) Lợi nhuận trên doanh thu (ROS), ROA, ROE Konar và Cohen (1997) ROA, ROE Majumda (1997) ROS Thomas và Tonks (1999) Lợi nhuận vượt mức từ cổ phiếu so với tỷ suất phi rủi ro Becker – Blease et al (2005) EBITDA cận biên, EBIT cận biên, EBT trên tổng tài sản Skandalis et al (2008) Tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng khả năng sinh lợi, phần trăm thay đổi hằng năm từ lợi nhuận của cổ phiếu 12 Agiomirgiannakis et al (2006) ROA Bobillo et al (2006) Doanh thu, Lợi nhuận cận biên Garcia – Teruel và Martinez Solano ROA (2006) Tryfonidis và Lazaridis (2010); Gacia ROA (2010); Sial và Chauhdry (2010); Dong và Su (2010) Ashraf (2012); Usama (2012); ROA Manoori và Muhammad (2012); Enqvist và ctg (2012); Ogundipe và ctg (2012); Nobanee và ctg (2012). Nguồn: Tổng hợp từ Liargovas P.S và các nguồn khác 2.
Lợi nhuận trên Tổng tài sản (ROA – Return on Assets) Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt được khi các nguồn lực trong doanh nghiệp được sử dụng một cách hiệu quả (Daft, 2008). Trong đó, tài chính là một trong những nguồn lực quan trọng. Chỉ tiêu ROA được sử dụng trong các nghiên cứu của Garcia – Teruel và Martinez Solano (2006); Tryfonidis và Lazaridis (2010); Gacia (2010); Sial và Chauhdry (2010); Dong và Su (2010); Ashraf (2012); Usama (2012); Manoori và Muhammad (2012); Enqvist và ctg (2012); Ogundipe và ctg (2012); Nobanee và ctg (2012). ROA là tỷ số đo lường hiệu quả sử dụng và quản lý nguồn tài sản của một doanh nghiệp.
Tỷ số ROA đo lường suất sinh lợi của cả vốn chủ sở hữu và của cả nhà đầu tư. Công thức tính như sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 ROA = 𝑇𝑜à𝑛 𝑏ộ 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 13 2. Lợi nhuận trên Vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity) Phân tích khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu cho thấy rõ, một đồng vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (DN). Chỉ tiêu này càng cao, các nhà quản trị càng có lợi thế trong việc đi huy động vốn trên thị trường tài chính để hỗ trợ đầu tư vào các kế hoạch sản xuất kinh doanh của DN.
Ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ và vốn chủ sở hữu dưới mức vốn điều lệ thì hiệu quả kinh doanh thấp, DN sẽ gặp khó khăn trong việc thu hút vốn. Tuy nhiên, sức sinh lời của vốn chủ sở hữu cao không phải lúc nào cũng thuận lợi, vì có thể là do ảnh hưởng của vốn chủ sở hữu nhỏ, mà vốn chủ sở hữu càng nhỏ thì mức độ mạo hiểm càng lớn. Công thức tính như sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 ROE = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛 2. Lợi nhuận trên doanh thu (ROS – Return on Sales) Chỉ tiêu này cho biết, một đồng doanh thu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ ra mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận.
Đây là 2 yếu tố có quan hệ rất mật thiết với nhau: Doanh thu chỉ ra vai trò, vị thế trên thị trường, còn lợi nhuận chỉ ra chất lượng và hiệu quả cuối cùng của DN. 2 yếu tố này thể hiện vai trò và vị thế của DN. Doanh thu thuần, lợi nhuận sau thuế, tỷ suất sinh lợi trên doanh thu càng lớn thì DN lại càng có vai trò và vị thế cao trên thị trường. Công thức tính như sau: 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 ROS = 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 2.
Các nhân tố tác động Một chuỗi của các nghiên cứu thực nghiệm thứ hai xem xét các yếu tố tài chính và phi tài chính như đòn bẩy nợ, thanh khoản, mức vốn hoá, tỷ lệ đầu tư, quy mô 14 doanh nghiệp, tuổi đời doanh nghiệp, đầu tư vốn lưu động, tài trợ vốn lưu động có ảnh hưởng đến hiệu suất và tăng trưởng tài chính của công ty. Nó cho thấy mức độ mà một doanh nghiệp đang sử dụng tiền vay. Các doanh nghiệp có đòn bẩy cao có thể có nguy cơ phá sản nếu họ không thể thanh toán nợ của họ; họ cũng có thể không tìm được người cho vay mới trong tương lai. Tuy nhiên đòn bẩy không phải lúc nào cũng tệ; nó có thể làm tăng lợi tức đầu tư của các cổ đông và tận dụng tốt các lợi thế về thuế liên quan đến việc vay vốn.
Lý thuyết thương mại (TO) (Bradley, Jarrell và Kim, 1984; Harris và Raviv, 1991) gợi ý rằng mỗi doanh nghiệp có tỷ lệ nợ / vốn chủ sở hữu tối ưu được xác định bằng cách cân bằng giá trị hiện tại của lợi ích cận biên dự kiến của đòn bẩy (như là tiết kiệm thuế do lãi trả) so với giá trị hiện tại của chi phí cận biên dự kiến. Theo lý thuyết này, mỗi doanh nghiệp vay để dần dần chuyển sang tỷ lệ nợ / vốn tối ưu, từ đó tối đa hóa giá trị thị trường của nó (được tính bằng giá trị hiện tại của tổng chi phí và lợi ích dự kiến của nợ). Hơn nữa, Jensen (1986) và Zwiebel (1996) ủng hộ việc tăng nợ có thể làm giảm khả năng tiếp quản của công ty bằng cách cam kết các nhà quản lý với một chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn. Do đó, có ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực của đòn bẩy đối với hiệu suất của doanh nghiệp.
Tỷ lệ thanh khoản (Liq – Liquidity) Thanh khoản đề cập đến mức độ các nghĩa vụ nợ đến hạn trong 12 tháng tới có thể được thanh toán bằng tiền mặt hoặc tài sản sẽ được chuyển thành tiền mặt. Nó thường được đo bằng tài sản hiện tại với nợ ngắn hạn (tỷ lệ hiện hành). Nó cho thấy khả năng chuyển đổi một tài sản sang tiền mặt một cách nhanh chóng và phản ánh khả năng của doanh nghiệp để quản lý vốn lưu động khi được giữ ở mức bình thường. Trong kinh tế tài chính một lập luận tiêu chuẩn để biện minh cho quyết định của một doanh nghiệp để duy trì thanh khoản dư thừa trong tài sản của nó liên quan đến cả động cơ đầu cơ và phòng ngừa.
Một doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản lỏng để tài 15 trợ cho hoạt động và đầu tư của mình khi tài chính bên ngoài không có sẵn hoặc quá tốn kém. Mặt khác, thanh khoản cao hơn sẽ cho phép một công ty đối phó với các dự phòng bất ngờ và để đối phó với các nghĩa vụ của mình trong các giai đoạn thu nhập thấp (Opler và cộng sự, 1999, Myers, 1977, Kim và cộng sự, 1998). Trái ngược với lý do trên, Hvide và These (2007), dựa trên mô hình lý thuyết của Evans và Jovanovic (1989), cho thấy một lượng thanh khoản vừa phải có thể thúc đẩy hiệu suất kinh doanh, nhưng sự phong phú về thanh khoản có thể gây hại nhiều hơn tốt. Do đó, hiệu quả của tính thanh khoản đối với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là mơ hồ.
Tỷ lệ vốn hóa (Cap – The Capitalization) Tỷ lệ vốn hóa hoặc tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản, đo lường mức độ tài sản cố định được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ cao cho thấy việc sử dụng vốn lưu động không hiệu quả làm giảm khả năng của doanh nghiệp để thực hiện các khoản phải thu và duy trì hàng tồn kho và thường có nghĩa là dự trữ tiền mặt thấp.