Đề tài nghiên cứu khoa học rèn năng lực giải các bài toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5 trường ptth clc nguyễn tất thành

Nghiên cứu khoa học: Rèn luyện năng lực giải toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5 trường Nguyễn Tất Thành. Phương pháp & kết quả.

Trường đại học

Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hòa Bình

Chuyên ngành

Toán học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học

2023

52
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Đặc điểm tư duy của học sinh lớp 5

1.2. Vị trí, vai trò của dạy học giải các bài toán chuyển động đều ở lớp 5

1.3. Phương pháp giải các bài toán chuyển động đều

1.4. Thực trạng dạy và học giải toán chuyển động đều ở lớp 5, trường PTTH CLC Nguyễn Tất Thành

1.5. Kết luận chương 1

2. BIỆN PHÁP RÈN NĂNG LỰC GIẢI CÁC BÀI TOÁN VỀ CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU

2.1. Dạy học sinh chuyển đổi đơn vị đo

2.2. Dạy học sinh về bản chất mối quan hệ giữa các đại lượng trong chuyển động đều

2.3. Xây dựng hệ thống bài tập nhằm rèn năng lực giải các bài toán về chuyển động đều

2.3.1. Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập

2.3.2. Hệ thống bài tập rèn năng lực giải các bài toán về chuyển động đều

2.4. Kết luận chương 2

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đề Tài Nghiên Cứu Giải Toán Chuyển Động

Đề tài nghiên cứu khoa học này tập trung vào việc rèn năng lực cho học sinh lớp 5 tại trường PTTH CLC Nguyễn Tất Thành trong việc giải bài toán chuyển động đều. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 nhấn mạnh ứng dụng toán học vào thực tế, và ở bậc tiểu học, môn toán đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển tư duy. Các bài toán về chuyển động đều liên quan đến các đại lượng: vận tốc, thời gian và quãng đường. Đây là những bài toán gắn liền với thực tiễn, giúp học sinh mở mang kiến thức và rèn luyện tư duy. Giải các bài toán đòi hỏi học sinh có khả năng phân tích, tổng hợp, và huy động kiến thức đã học. Đề tài này hướng đến việc nghiên cứu và tìm ra các giải pháp tối ưu giúp học sinh học tốt dạng toán này. Mục tiêu là đề xuất các biện pháp sư phạm rèn năng lực giải bài toán chuyển động đều cho học sinh. Nghiên cứu bao gồm các quan điểm lý luận về giải toán và thực trạng năng lực giải toán của học sinh. Đề xuất các biện pháp sư phạm rèn năng lực. Nghiên cứu tập trung vào lý thuyết và bài tập liên quan đến chuyển động đều trong chương trình Toán lớp 5, trường PTTH CLC Nguyễn Tất Thành.

1.1. Tầm quan trọng của toán chuyển động trong chương trình lớp 5

Toán chuyển động đều nằm trong chương IV của SGK toán 5 và gồm 17 tiết. Chương này hệ thống lại các đơn vị đo thời gian và các phép tính liên quan, đồng thời giới thiệu khái niệm về cách tính vận tốc, quãng đường và thời gian trong chuyển động đều. Toán chuyển động luôn bao gồm: Vật chuyển động, thời gian, vận tốc và quãng đường. Toán chuyển động được trình bày dưới dạng bài toán có lời văn, có liên quan và ứng dụng trong thực tế, đòi hỏi học sinh phải tư duy, suy luận và hiểu biết về thực tế cuộc sống. Loại toán này không chỉ giải bằng công thức mà còn phải biết phân tích, suy luận từ những dữ kiện của bài toán. Toán chuyển động đều giúp học sinh đào sâu, củng cố kiến thức cơ bản về loại toán này, củng cố kiến thức về đại lượng tỉ lệ thuận và tỉ lệ nghịch, kỹ năng tóm tắt bài toán và kỹ năng tính toán. Khảo sát cho thấy nội dung và bài tập về chuyển động đều đã thể hiện rõ mục tiêu tăng cường thực hành và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Các bài tập mới chỉ dừng lại ở các trường hợp đơn giản, và các bài tập về chuyển động xuôi dòng, ngược dòng, chuyển động ngược chiều gặp nhau, chuyển động cùng chiều đuổi nhau còn quá ít.

1.2. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu Nâng cao năng lực giải toán

Đề tài nghiên cứu đặt ra mục tiêu rõ ràng: nâng cao năng lực giải toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5. Việc giải các bài toán chuyển động đều không những đòi hỏi ở học sinh khả năng tư duy linh hoạt, sáng tạo, mà còn đòi hỏi ở các em khả năng ngôn ngữ phong phú nhằm một mặt hiểu được nội dung bài toán, một mặt để diễn đạt bài giải của mình một cách tường minh. Do vậy, cần phải có các giải pháp trong phương pháp dạy học sao cho phù hợp, từ đó đã thúc giục bản thân tôi tìm hiểu và thực hiện đề tài này.

II. Thực Trạng Giải Toán Chuyển Động Đều tại Trường Nguyễn Tất Thành

Trong thực tế giảng dạy, chương trình toán lớp 5 có nhiều dạng toán phong phú, đa dạng, trong đó các bài toán về chuyển động đều là một trong những dạng toán khó. Các em chưa nắm vững hệ thống công thức, chưa nắm được phương pháp giải theo từng dạng bài khác nhau. Trong quá trình giải toán, học sinh còn sai lầm khi đổi đơn vị đo thời gian, kĩ năng tính toán, kĩ năng giải toán có lời văn còn nhầm lẫn. Học sinh chưa được rèn luyện giải theo dạng bài nên khả năng nhận dạng bài, và vận dụng phương pháp giải cho từng dạng bài chưa có. Nhiều em không đọc kĩ đề, suy nghĩ thiếu cẩn thận, hấp tấp nên bỏ sót dữ kiện đề bài cho. Hoặc không chú ý đến sự tương ứng giữa các đơn vị đo của các đại lượng khi thay vào công thức tính dẫn đến sai. Nhiều học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản, tiếp thu bài máy móc, chỉ làm theo mẫu chứ chưa tự suy nghĩ để tìm cách giải. Học toán chuyển động đều yêu cầu học sinh phải tư duy tốt, có óc sáng tạo. Mà đối với học sinh Tiểu học năng lực này còn hạn chế.

2.1. Khó khăn thường gặp của học sinh lớp 5 khi giải toán

Học sinh lần đầu được tiếp cận với toán chuyển động đều còn bỡ ngỡ, gặp nhiều khó khăn. Các em chưa nắm vững hệ thống công thức, chưa nắm được phương pháp giải theo từng dạng bài khác nhau. Trong quá trình giải toán, học sinh còn sai lầm khi đổi đơn vị đo thời gian, kĩ năng tính toán, kĩ năng giải toán có lời văn còn nhầm lẫn. Học sinh chưa được rèn luyện giải theo dạng bài nên khả năng nhận dạng bài, và vận dụng phương pháp giải cho từng dạng bài chưa có. Dẫn đến học sinh lúng túng, chán nản khi gặp loại toán này. Khi làm bài nhiều em không đọc kĩ đề, suy nghĩ thiếu cẩn thận, hấp tấp nên bỏ sót dữ kiện đề bài cho. Hoặc không chú ý đến sự tương ứng giữa các đơn vị đo của các đại lượng khi thay vào công thức tính dẫn đến sai.

2.2. Hạn chế trong phương pháp dạy học hiện tại

Đa số giáo viên chưa nghiên cứu để khai thác hết kiến thức, dạy máy móc, chưa chú trọng làm rõ bản chất toán học, nên học sinh chỉ nhớ công thức và vận dụng công thức làm bài, chứ chưa có sự sáng tạo trong từng bài toán tình huống chuyển động cụ thể có trong cuộc sống. Chưa chú trọng hướng dẫn học sinh cách giải theo từng dạng bài; không chú ý quan tâm rèn kĩ năng giải toán một cách toàn diện cho học sinh. Thực tế, giáo viên chưa biết cách phân loại, tổ chức, hướng dẫn học sinh phát huy, vận dụng tối đa các kiến thức sẵn có để giải bài toán chuyển động nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

III. Cách Chuyển Đổi Đơn Vị Đo Tính Toán Chuyển Động Đều

Việc chuyển đổi đơn vị đo thời gian và nắm vững các công thức tính vận tốc, quãng đường, thời gian là yếu tố then chốt để giải bài toán chuyển động đều. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách chuyển đổi giữa các đơn vị đo thời gian (giờ, phút, giây) và quãng đường (km, m). Trong quá trình dạy học, GV cần lưu ý học sinh những vấn đề sau để các em tránh được những sai lầm khi làm bài: Các đơn vị của đại lượng khi thay vào công thức phải tương ứng với nhau. Số đo thời gian khi thay vào công thức phải viết dưới dạng số tự nhiên, số thập phân hoặc phân số.

3.1. Các Đơn Vị Đo Thời Gian và Công Thức Tính

Một số đơn vị đo thời gian: 1 thế kỉ = 100 năm, 1 năm = 365 ngày, 1 ngày = 24 giờ, 1 giờ = 60 phút, 1 phút = 60 giây. Cần thành thạo các phép tính với số đo thời gian. Khi cộng, trừ số đo thời gian, các số đo cùng đơn vị phải thẳng cột với nhau. Sau đó, đưa số đo có đơn vị bé về đơn vị lớn liền kề (nếu có thể). Đặc biệt lưu ý khi số đo ở số bị trừ bé hơn số đo ở số trừ, ta phải mượn 1 đơn vị ở số đo lớn hơn để đưa về dạng số đo bé hơn để trừ.

3.2. Lưu ý khi sử dụng công thức tính vận tốc quãng đường thời gian

GV cần lưu ý học sinh những vấn đề sau để học sinh tránh được những sai lầm khi làm bài: +) Nếu đơn vị của quãng đường là km, thời gian là giờ thì đơn vị của vận tốc là km/giờ; đơn vị của quãng đường là m, thời gian là phút thì đơn vị của vận tốc là m/phút. +) Nếu đơn vị của quãng đường là km, vận tốc là km/giờ thì đơn vị của thời gian là giờ; đơn vị của quãng đường là m, vận tốc là m/phút thì đơn vị của thời gian là phút. +) Nếu đơn vị của vận tốc là km/giờ, thời gian là giờ thì đơn vị của quãng đường là km; đơn vị của vận tốc là m/phút, thời gian là phút thì đơn vị của quãng đường là m. Các đơn vị của đại lượng khi thay vào công thức phải tương ứng với nhau. Số đo thời gian khi thay vào công thức phải viết dưới dạng số tự nhiên, số thập phân hoặc phân số.

IV. Hướng Dẫn Hiểu Bản Chất Mối Liên Hệ Trong Chuyển Động

Giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ bản chất toán học của khái niệm vận tốc, mối quan hệ giữa vận tốc, quãng đường và thời gian. Vận tốc chính là quãng đường đi được trong một đơn vị thời gian và ý nghĩa của vận tốc là cho biết sự chuyển động nhanh hay chậm của động tử. Khi đi cùng vận tốc, quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian. Khi đi cùng thời gian, quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc. Khi đi trên cùng một quãng đường, vận tốc và thời gian tỉ lệ nghịch với nhau.

4.1. Giải thích khái niệm vận tốc và ý nghĩa thực tiễn

Trong ba đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian của toán chuyển động đều thì khái niệm vận tốc là một khái niệm khó hiểu, trừu tượng đối với học sinh nên GV cần tìm cách giúp học sinh hiểu rõ bản chất toán học, ý nghĩa của đại lượng này. Qua đó, học sinh hiểu rõ bản chất: “Vận tốc chính là quãng đường đi được trong một đơn vị thời gian” và ý nghĩa của vận tốc là cho biết sự chuyển động nhanh hay chậm của động tử.

4.2. Mối quan hệ giữa vận tốc quãng đường và thời gian

Để có thể đưa một số bài toán chuyển động đều về các dạng toán điển hình thì trong quá trình dạy hình thành công thức tính vận tốc, quãng đường, thời gian, GV có thể hướng dẫn học sinh nhận ra mối quan hệ giữa 3 đại lượng đó như sau: - Quãng đường đi được (trong cùng thời gian) tỉ lệ thuận với vận tốc. - Vận tốc và thời gian (đi cùng một quãng đường) tỉ lệ nghịch với nhau. - Khi đi cùng vận tốc, quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian. Các bài toán chuyển động đều, nhiều bài khi mới đọc đề tưởng như rất khó, rất phức tạp nhưng biết cuyển về dạng toán điển hình thì việc giải bài toán trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.

V. Phương Pháp Xây Dựng Hệ Thống Bài Tập Rèn Luyện Giải Toán

Xây dựng hệ thống bài tập đa dạng, từ cơ bản đến nâng cao, theo từng dạng toán cụ thể. Hệ thống các bài tập phải thể hiện rõ ý tưởng góp phần rèn năng lực giải toán chuyển động đều cho HS, đồng thời cũng góp phần quan trọng vào việc làm cho HS nắm vững các tri thức, kĩ năng môn học. Hệ thống bài tập phải có tính khả thi và tôn trọng, bám sát nội dung cơ bản của chương trình sách giáo khoa toán 5.

5.1. Các nguyên tắc cơ bản khi xây dựng hệ thống bài tập

Hệ thống các bài tập phải thể hiện rõ ý tưởng góp phần rèn năng lực giải toán chuyển động đều cho HS, đồng thời cũng góp phần quan trọng vào việc làm cho HS nắm vững các tri thức, kĩ năng môn học. Hệ thống các bài tập phải có tính khả thi, có thể thực hiện được trong quá trình dạy học. Tôn trọng, bám sát, tập trung nội dung cơ bản của chương trình sách giáo khoa toán 5. Xây dựng những bài tập phù hợp với đối tượng HS để đạt được những yêu cầu nâng cao trên cơ sở đạt được những yêu cầu cơ bản, nhằm rèn năng lực giải toán cho HS.

5.2. Phân loại các dạng toán chuyển động đều cơ bản

Trong thực tế, các tình huống chuyển động vô cùng phong phú, chính vì sự phong phú đó mà các bài toán chuyển động đều cũng rất đa dạng về nội dung. Việc phân chia dạng toán để giúp các em nhận dạng là vô cùng quan trọng. Nó giúp HS nắm phương pháp giải một cách có hệ thống và giúp các em rèn luyện kĩ năng giải toán được nhiều hơn. Trong chương trình lớp 5, toán chuyển động có 6 dạng cơ bản: - Bài toán tính vận tốc khi biết quãng đường và thời gian. - Bài toán tính quãng đường khi biết thời gian và vận tốc. - Bài toán tính thời gian khi biết vận tốc và quãng đường. - Bài toán tính thời gian gặp nhau của hai chuyển động ngược chiều. - Bài toán tính thời gian đuổi kịp nhau của hai chuyển động cùng chiều. - Bài toán chuyển động xuôi dòng và ngược dòng.

VI. Kết Luận Rèn Năng Lực Giải Toán Phát Triển Tư Duy

Dạng toán về chuyển động đều là một nội dung khó và khá trừu tượng đối với học sinh lớp 5. Vì vậy, giáo viên cần phải kiên trì rèn kĩ năng cho các em từ đơn giản đến phức tạp, chú trọng thực hiện một số yêu cầu cơ bản sau: Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo thời gian cho HS. Giúp HS nắm vững kiến thức cơ bản về dạng toán chuyển động đều, hệ thống các công thức cần ghi nhớ. Giúp các em vận dụng các kiến thức cơ bản để giải tốt các bài toán chuyển động đều theo từng dạng bài. Quá trình khai thác bài toán chuyển động đều còn giúp HS tự tin hơn trong cuộc sống. HS cũng được củng cố giải các dạng toán khác: tổng – hiệu, tổng – tỉ, hiệu – tỉ, trung bình cộng,. Quá trình hoạt động để làm toán HS sẽ được hình thành và củng cố khả năng phân tích, tổng hợp, loại bỏ, tư duy lô gíc, tư duy phê phán, đặc biệt là tư duy trừu tượng.

6.1. Tổng kết các biện pháp rèn luyện năng lực giải toán

Để học sinh nắm vững kiến thức và kĩ năng giải toán chuyển động đều, cần thực hiện các biện pháp sau: Dạy học sinh chuyển đổi đơn vị đo. Dạy học sinh về bản chất mối quan hệ giữa các đại lượng trong chuyển động đều. Xây dựng hệ thống bài tập theo từng dạng toán. Hướng dẫn học sinh giải các bài toán từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Khuyến khích học sinh tìm nhiều cách giải khác nhau cho một bài toán.

6.2. Tầm quan trọng của phát triển tư duy trong dạy học toán

Điều quan trọng là hình thành được ở HS khả năng tự học, tự tìm tòi, độc lập làm việc, sáng tạo. Đó là những năng lực, phẩm chất quan trọng hàng đầu của con người trong thời đại hiện nay – như mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 Việc giải các bài toán chuyển động đều không những đòi hỏi ở học sinh khả năng tư duy linh hoạt, sáng tạo, mà còn đòi hỏi ở các em khả năng ngôn ngữ phong phú nhằm một mặt hiểu được nội dung bài toán, một mặt để diễn đạt bài giải của mình một cách tường minh. Do vậy, cần phải có các giải pháp trong phương pháp dạy và học sao cho phù hợp, từ đó đã thúc giục bản thân tôi tìm hiểu và thực hiện đề tài này. BIỆN PHÁP RÈN NĂNG LỰC GIẢI CÁC BÀI TOÁN VỀ CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU 2. Dạy học sinh chuyển đổi đơn vị đo - Một số đơn vị đo thời gian: 1 thế kỉ = 100 năm.

1 năm thường có 365 ngày, năm nhuận có 366 ngày. 1 ngày có 24 giờ ; 1 giờ = 60 phút; 1 phút = 60 giây. - Các phép tính với số đo thời gian: Muốn cộng hai số đo thời gian ta đặt tính sao cho các số đo cùng đơn vị đo thẳng cột với nhau rồi cộng các số đo cùng đơn vị với nhau, sau đó đưa số đo có đơn vị bé về đơn vị lớn liền kề (nếu có thể). Muốn trừ hai số đo thời gian ta đặt tính sao cho các số đo cùng đơn vị đo thẳng cột với nhau rồi trừ các số đo cùng đơn vị với nhau.

Nếu trường hợp số đo ở số bị trừ bé hơn số đo ở số trừ ta phải mượn 1 đơn vị ở số đo lớn hơn đưa về dạng số đo bé hơn để trừ. Muốn nhân số đo thời gian với một số ta đặt tính nhân từng số đo với số đó rồi đưa kết quả về số đo lớn hơn (nếu có thể). Muốn chia số đo thời gian với một số ta chia từng số đo với số đó. Trường hợp số đo thời gian bé hơn số chia thì ta đổi sang đơn vị đo bé hơn để tiếp tục chia.

- Trong quá trình dạy học hình thành quy tắc, công thức tính vận tốc, quãng đường, thời gian, GV cần lưu ý HS những vấn đề sau để HS tránh được những sai lầm khi làm bài: 15 +) Nếu đơn vị của quãng đường là km, thời gian là giờ thì đơn vị của vận tốc là km/giờ; đơn vị của quãng đường là m, thời gian là phút thì đơn vị của vận tốc là m/phút. +) Nếu đơn vị của quãng đường là km, vận tốc là km/giờ thì đơn vị của thời gian là giờ; đơn vị của quãng đường là m, vận tốc là m/phút thì đơn vị của thời gian là phút. +) Nếu đơn vị của vận tốc là km/giờ, thời gian là giờ thì đơn vị của quãng đường là km; đơn vị của vận tốc là m/phút, thời gian là phút thì đơn vị của quãng đường là m. Các đơn vị của đại lượng khi thay vào công thức phải tương ứng với nhau.

Số đo thời gian khi thay vào công thức phải viết dưới dạng số tự nhiên, số thập phân hoặc phân số. Một người chạy được 400m trong 1 phút 20 giây. Tính vận tốc chạy của người đó với đơn vị là m/giây.139) Phân tích: Giáo viên đặt câu hỏi để học sinh tìm hiểu bài toán. - Bài toán yêu cầu tính gì? (Tính vận tốc với đơn vị m/giây) - Bài toán cho biết gì? (Cho biết quãng đường với đơn vị mét và thời gian với đơn vị phút và giây) - Ta đã có thể vận dụng công thức tính vận tốc được ngay không? (Chưa thể vận dụng ngay vì số đo thời gian đang tồn tại ở 2 đơn vị phút, giây) Từ gợi ý trên, HS sẽ nhận thấy để giải được bài toán phải đổi thời gian (1 phút 20 giây = 80 giây).

Sau khi đổi, HS sẽ áp dụng công thức cơ bản tính vận tốc để giải. Bài giải Đổi: 1 phút 20 giây = 80 giây Vận tốc chạy của người đó là: 16 400 : 80 = 5 (m/giây) Đáp số: 5 m/giây Ví dụ 2. Một xe máy đi từ A lúc 8 giờ 20 phút với vận tốc 42 km/giờ, đến B lúc 11 giờ. Tính độ dài quãng đường AB.141) Phân tích: - Bài toán có thể đưa về dạng toán cơ bản nào? (Dạng toán tính quãng đường) - Yếu tố gì đã biết? (Yếu tố vận tốc) - Yếu tố gì chưa biết? (Yếu tố thời gian) - Có thể tính đựơc thời gian không? (Có thể tính được bằng cách: Lấy thời điểm đến trừ thời điểm xuất phát) Bài giải Thời gian xe máy đi từ A đến B là: 11 giờ - 8 giờ 20 phút = 2 giờ 40 phút 8 Đổi: 2 giờ 40 phút = giờ 3 Độ dài quãng đường AB là: 8 42  = 112 (km) 3 Đáp số: 112km Nhận xét: Qua bài toán trên, GV cần lưu ý HS không đổi 2 giờ 40 phút = 2,666666666.

Trong các trường hợp đổi sang số thập phân vô hạn thì phải đổi số đo thời gian dưới dạng phân số. Dạy học sinh về bản chất mối quan hệ giữa các đại lượng trong chuyển động đều Trong ba đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian của toán chuyển động đều thì khái niệm vận tốc là một khái niệm khó hiểu, trừu tượng đối với 17 HS nên GV cần tìm cách giúp HS hiểu rõ bản chất toán học, ý nghĩa của đại lượng này. Hai người cùng xuất phát một lúc từ A đi đến B. Mỗi giờ người thứ nhất đi được 25km, người thứ hai đi được 20km.

Hỏi ai đến B trước? Ta có sơ đồ đoạn thẳng: Người thứ nhất: A B QĐ trong 1 giờ: 25km Người thứ hai: A B QĐ trong 1 giờ: 20km Từ sơ đồ, HS dễ dàng nhận thấy người đến B trước là người đi nhanh hơn. Qua đó, HS hiểu rõ bản chất: “Vận tốc chính là quãng đường đi được trong một đơn vị thời gian” và ý nghĩa của vận tốc là cho biết sự chuyển động nhanh hay chậm của động tử. Để có thể đưa một số bài toán chuyển động đều về các dạng toán điển hình thì trong quá trình dạy hình thành công thức tính vận tốc, quãng đường, thời gian, GV có thể hướng dẫn HS nhận ra mối quan hệ giữa 3 đại lượng đó như sau: - Quãng đường đi được (trong cùng thời gian) tỉ lệ thuận với vận tốc. - Vận tốc và thời gian (đi cùng một quãng đường) tỉ lệ nghịch với nhau.

- Khi đi cùng vận tốc, quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian. Các bài toán chuyển động đều, nhiều bài khi mới đọc đề tưởng như rất khó, rất phức tạp nhưng biết cuyển về dạng toán điển hình thì việc giải bài toán trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Một số bài toán chuyển động đều có thể đưa về các dạng toán điển hình nhờ vào mối quan hệ tỉ lệ giữa các đại lượng như: - Tìm hai số khi biết tổng (hiệu) và tỉ số của hai số đó. - Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.

- Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó. Một ô tô dự kiến đi từ A với vận tốc 45 km/giờ để tới B lúc 12 giờ trưa. Do đường đông xe nên mỗi giờ xe chỉ đi được 35km và đến B chậm 40 phút so với dự kiến. Tính quãng đường từ A đến B.139) Phân tích: - Xác định các đại lượng đã cho: + Vận tốc dự kiến: 45 km/giờ + Vận tốc thực đi: 35 km/giờ + Thời gian chênh lệch: 40 phút - Thiết lập mối quan hệ giữa các đại lượng đã cho: 9 + Tỉ số vận tốc dự kiến và vận tốc thực đi là 7 + Từ tỉ số giữa vận tốc dự kiến và vận tốc thực đi, dựa vào mối quan hệ tỉ lệ giữa vận tốc và thời gian là hai đại lượng tỉ lệ nghịch với nhau khi đi trên cùng một quãng đường, ta suy ra được: 7 + Tỉ số giữa thời gian dự kiến và thời gian thực đi là 9 - Xác định dạng toán điển hình rồi giải toán: Ở bài toán này ta đã biết tỉ số thời gian dự kiến và thời gian thực đi là, hiệu giữa hai thời gian là 40 phút.

Đây chính là dạng toán điển hình “Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó”. Học sinh dễ dàng giải được bài toán. Bài giải: Tỉ số giữa vận tốc dự kiến và vận tốc thực đi là: 9 45 : 35 = 7 Vì trên cùng một quãng đường, vận tốc và thời gian là 2 đại lượng tỉ lệ 7 nghịch nên tỉ số giữa thời gian dự kiến và thời gian thực đi là. 9 Ta có sơ đồ: 19 Thời gian dự kiến: 40 phút Thời gian thực đi: …phút? Thời gian thực đi từ A đến B là: 40 : (9 – 7) x 9 = 180 (phút) Đổi: 180 phút = 3 giờ Quãng đường từ A đến B dài là: 35 x 3 = 105 (km) Đáp số: 105km.

Nhận xét: Ta cũng có thể tính quãng đường từ A đến B bằng cách tìm thời gian dự kiến rồi nhân với vận tốc tương ứng. Sau khi hướng dẫn HS giải bài toán trên, GV cho HS giải các bài toán tương tự để HS nắm vững phương pháp giải. Hằng ngày, An đi xe đạp từ nhà đến trường mất 20 phút. Sáng nay, do có việc bận, An xuất phát chậm hơn 4 phút so với mọi ngày.

Để đến lớp đúng giờ, An tính mỗi phút phải đi nhanh hơn 50m so với mọi ngày. Hỏi quãng đường từ nhà An đến lớp học dài bao nhiêu ki-lô- mét? ([6], tr.140) Phân tích: - Để tính quãng đường từ nhà An đến lớp học, ta phải tìm vận tốc. - Theo bài ra, ta tìm được tỉ số giữa thời gian hằng ngày và thời gian sáng nay. - Vì trên cùng một quãng đường, vận tốc và thời gian là 2 đại lượng tỉ lệ nghịch nên ta tìm được tỉ số giữa vận tốc hằng ngày và vận tốc sáng nay.

- Từ đó, đưa bài toán về dạng: Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó. 20 Bài giải Thời gian sáng nay An đi từ nhà đến trường là: 20 – 4 = 16 (phút) Tỉ số giữa thời gian hằng ngày và thời gian sáng nay An đi là: 5 20 : 16 = 4 Vì trên cùng một quãng đường, vận tốc và thời gian là 2 đại lượng tỉ lệ 4 nghịch nên tỉ số giữa vận tốc hằng ngày và vận tốc sáng nay An đi là 5 Ta có sơ đồ: ?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ