CHƯƠNG 1 Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản phương Tây đã dẫn đến những cuộc chiến tranh tranh giành thuộc địa của các nước tư bản ở khắp các châu lục, Việt nam cũng không ngoại lệ, trở thành tầm ngắm của thực dân Pháp, và hậu quả là biến Việt Nam từ một nước độc lập chủ quyền trở thành một nước thuộc địa của Pháp, qua đó làm biến đổi sâu sắc về mọi mặt của đời sống xã hội, kinh tế, chính trị. Sự ra đời và phát triển của Lý luận C.Mác - Lênin đã trở thành một tiền đề khoa học và thực tiễn cho các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cùng với sự thành công của Cách Mạng Tháng Mười Nga (1917), sự hình thành nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên, và sự ra đời của Quốc Tế Cộng Sản (1919) đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử chính trị thế giới, điều đó đã tác động mạnh mẽ và làm thức tỉnh phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Đây cũng chính là cơ sở cho sự thắng lợi sau này của Cách Mạng Việt Nam. Trong bối cảnh ấy, dưới các chính sách thống trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đã bị phân hóa một cách mạnh mẽ từ giai cấp đến các tầng lớp nhân dân.
Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số bộ phận nhân dân thuộc các giai cấp và tầng lớp đó có lòng yêu nước và quyết tâm giảnh độc lập, với từng đặc điểm và tính chất của từng bộ phận giai cấp riêng như thế đã đặt ra những mâu thuẫn và mục tiêu cần giải quyết vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, phát triển đất nước của các nhà yêu nước. Việc lựa chọn con đường phát triển đúng đắn có chiến lược rõ ràng chính là sứ mệnh lịch sử đặt ra cho tất cả các giai cấp trong xã hội Việt Nam, thực tiễn ấy đòi hỏi các nhà yêu nước phải tìm ra cách giải phóng dân tộc và lựa chọn con đường đúng đắn giải phóng dân tộc, đấy cũng là con đường mà Việt Nam sẽ phát triển theo hướng đi đó trong tương lai. 11 Chương 2 QUÁ TRÌNH LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN ĐẦU NĂM 1930 2. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.
Phong trào yêu nước của giai cấp phong kiến Quá trình chọn lọc của đất nước trong phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX của giai cấp phong kiến diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đứng trước những thay đổi to lớn do thực dân Pháp xâm lược. Giai cấp phong kiến phải tìm cách bảo vệ quyền lợi của dân tộc và hệ tư tưởng truyền thống trước sự đe dọa của chủ nghĩa thực dân. Những người thuộc tầng lớp phong kiến, bao gồm vua quan, sĩ phu và nho sĩ, đóng vai trò chủ chốt trong các phong trào kháng Pháp. Họ vận dụng tư tưởng Nho giáo và lòng trung quân ái quốc để tập hợp nhân dân.
Phong trào yêu nước phong kiến nhắm đến khôi phục lại quyền lực triều đình, bảo vệ nền quân chủ, và chống lại ách thống trị của thực dân. Ban đầu, nhiều phong trào trung thành với con đường "Cần Vương" (giúp vua) như phong trào khởi nghĩa của Phan Đình Phùng và Tôn Thất Thuyết. Tuy nhiên, khi triều đình nhà Nguyễn tỏ ra bất lực và không có khả năng lãnh đạo cuộc kháng chiến, một bộ phận sĩ phu bắt đầu tìm những cách thức mới để đấu tranh, như canh tân đất nước (Tân Dân chủ). Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến diễn ra do những lý do sau.
Theo truyền thống Nho giáo, việc trung thành với vua, bảo vệ vương triều, và giữ gìn nền độc lập quốc gia là bổn phận thiêng liêng của người dân, đặc biệt là các quan lại và sĩ phu. Sự cai trị của thực dân làm suy yếu quyền lực phong kiến và gây bất mãn sâu sắc trong xã hội. Giai cấp phong kiến nhận thấy việc chống lại thực dân là cách để bảo vệ lợi ích của quốc gia và quyền lực của mình. Một số quan lại yêu nước không chấp nhận thái độ thỏa hiệp của triều đình Huế, do đó đã đứng ra lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa (như khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo).
Cuối thế kỷ XIX, hệ tư tưởng phong kiến vẫn chiếm ưu thế. Các phong trào yêu nước chưa có sự kết hợp với những tư tưởng hiện đại như chủ nghĩa dân tộc hay chủ nghĩa xã hội, nên họ vẫn bám vào lý tưởng phong kiến truyền thống. 12 Phong trào đã để lại dấu ấn lớn trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Tuy không giành được thắng lợi cuối cùng, nhưng nó đã thể hiện tinh thần yêu nước mãnh liệt và truyền cảm hứng cho các thế hệ sau.
Song vẫn còn những hạn chế, việc gắn bó quá mức với hệ tư tưởng phong kiến khiến các phong trào không thể thích ứng với yêu cầu đổi mới và hiện đại hóa đất nước. Các cuộc khởi nghĩa diễn ra rời rạc, thiếu một tổ chức lãnh đạo thống nhất và không đủ sức đối đầu với thực dân Pháp. Tóm lại: Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX là nỗ lực của giai cấp phong kiến và tầng lớp sĩ phu trong việc bảo vệ độc lập dân tộc. Tuy nhiên, do những hạn chế về tư tưởng và phương pháp đấu tranh, phong trào này đã không thể thành công, nhưng nó đặt nền móng cho sự ra đời của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ và xã hội chủ nghĩa về sau.
Phong trào yêu nước của giai cấp nông dân Phong trào yêu nước của giai cấp nông dân trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ tình hình chính trị-xã hội do thực dân Pháp xâm lược và triều đình phong kiến suy yếu. Nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội và đóng vai trò quan trọng trong các phong trào kháng chiến chống Pháp. Họ trở thành lực lượng chính trong các cuộc khởi nghĩa như: Khởi nghĩa Hương Khê (1885- 1896) do Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo, khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887) ở Thanh Hóa, khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913) do Đề Thám lãnh đạo. Ban đầu, nông dân tham gia chủ yếu theo tinh thần tự phát, gắn bó với quê hương, ruộng đất, và mong muốn bảo vệ cuộc sống thường ngày.
Dần dần, thông qua sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước và quan lại phong kiến như Phan Đình Phùng, phong trào trở nên tự giác hơn, có tổ chức và mục tiêu rõ ràng hơn là đánh đuổi thực dân, giành lại độc lập. Giai cấp nông dân chủ yếu lựa chọn đấu tranh vũ trang với hình thức khởi nghĩa ở các vùng nông thôn, lợi dụng địa hình rừng núi và tổ chức lực lượng du kích để đối phó với quân Pháp. Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa này thường mang tính địa phương và thiếu sự kết nối giữa các vùng. Người nông dân coi đất đai là nguồn sống, và khi thực dân Pháp cùng các thế lực địa chủ cấu kết để chiếm đoạt ruộng đất, họ buộc phải đứng lên đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình.
Nông dân được giáo dục trong truyền thống "trung quân ái quốc" – trung thành với vua và sẵn sàng hy sinh vì đất nước. Khi vua và sĩ phu kêu gọi khởi nghĩa, họ hưởng ứng vì niềm tin vào sự phục hưng của triều đình và độc lập dân tộc. Các thủ lĩnh phong kiến như Phan Đình Phùng, Đề Thám được nông dân tin tưởng nhờ uy tín cá nhân và khả năng tổ chức lực lượng. Nông dân kỳ vọng rằng kháng chiến sẽ khôi phục lại sự bình yên cho 13 quê hương.
Bất mãn với sự bóc lột của thực dân và triều đình, sự xâm lược của Pháp và chính sách thuế khóa nặng nề của triều đình khiến đời sống của nông dân ngày càng khốn khó. Họ vừa đấu tranh chống lại thực dân Pháp, vừa thể hiện sự phản kháng với những quan lại phong kiến thối nát và bất lực. Nông dân là lực lượng quan trọng nhất trong các cuộc khởi nghĩa, góp phần kéo dài thời gian kháng chiến và làm chậm lại quá trình bình định của thực dân Pháp. Những phong trào khởi nghĩa như Yên Thế đã gây tổn thất nặng nề cho quân Pháp và trở thành biểu tượng của tinh thần kháng chiến bền bỉ.
Song vẫn tồn tại một số hạn chế, phong trào của nông dân thường thiếu sự liên kết và tổ chức chặt chẽ, phụ thuộc vào các thủ lĩnh địa phương. Các cuộc khởi nghĩa dựa nhiều vào chiến đấu vũ trang mà thiếu các phương án chính trị và ngoại giao hiệu quả. Do gắn bó với hệ tư tưởng phong kiến, các phong trào không thể vượt qua được những giới hạn của thời đại, không kịp chuyển mình theo xu hướng cách mạng mới. Tóm lại, phong trào yêu nước của giai cấp nông dân trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX thể hiện khát vọng bảo vệ quê hương và giành lại độc lập dân tộc.
Tuy nhiên, do thiếu tổ chức thống nhất và vẫn chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng phong kiến, các cuộc khởi nghĩa này không đạt được thắng lợi cuối cùng. Dù vậy, chúng đã trở thành nguồn cảm hứng và nền tảng cho những phong trào cách mạng sau này, đặc biệt là phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ và cộng sản ở đầu thế kỷ XX. Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản a) Tình hình thế giới nửa sau thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX Từ nửa sau thế kỉ XIX, các nước tư bản đẩy mạnh quá trình xâm chiếm và nô dịch các nước thuộc địa. Nhân dân các nước bị áp bức đứng lên đấu tranh giải phóng mình khỏi ách thực dân.
Trong bối cảnh đó, thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 làm biến đổi sâu sắc tình hình thế giới. Tác động đến phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa trong đó có Việt Nam. b) Tình hình Việt Nam nửa sau thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX Dưới chế độ phong kiến nửa sau thế kỉ XIX, giai cấp Việt Nam có 2 giai cấp cơ bản là giai cấp địa chủ và nông dân 90%. Giai cấp địa chủ bị phân hoá, 1 bộ phận địa chủ cấu kết với thực dân Pháp và làm tay sai cho Pháp, đàn áp phong trào yêu nước và bốc lột nông dân.