Đề cương bài giảng học phần Sinh lí trẻ em ngành Đại học Mầm non Trường Đại học Tân Trào

Đề cương bài giảng học phần Sinh lí trẻ em Trường Đại học Tân Trào cung cấp kiến thức nền tảng về quy luật sinh trưởng và phát triển thể chất của trẻ.

Trường đại học

Đại học Tân Trào

Chuyên ngành

Giáo dục mầm non

Tác giả

Quan Thị Dung

Thể loại

Đề cương bài giảng

2017

79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan học phần sinh lí trẻ em Trường Đại học Tân Trào

Học phần Sinh lí trẻ em tại Trường Đại học Tân Trào giữ vị trí then chốt trong chương trình đào tạo ngành Sư phạm Mầm non. Tài liệu đề cương do Thạc sĩ Quan Thị Dung biên soạn thuộc Bộ môn Sinh - Hóa - KTNN của Khoa Khoa học Cơ bản. Giáo trình trang bị tri thức toàn diện về sự sinh trưởng thể chất và các biến đổi sinh lí qua từng giai đoạn phát triển lứa tuổi. Cơ thể trẻ em luôn vận động như một khối thống nhất và một hệ thống tự điều chỉnh hoàn chỉnh. Mọi cơ quan chức năng đều chịu sự chi phối chặt chẽ từ môi trường sống xung quanh. Sinh viên tiếp thu kiến thức sinh lí học để hiểu rõ cơ chế hoạt động của tế bào, mô và các hệ thống cơ quan. Nền tảng khoa học này giúp người học hình thành nhận thức sư phạm vững vàng. Người giáo viên tương lai sẽ biết cách theo dõi chỉ số thể chất của học sinh. Mục tiêu cốt lõi của đề cương là xây dựng thái độ tôn trọng đặc điểm sinh lí tự nhiên. Người học chủ động rèn luyện kỹ năng quan sát thực tế trong hoạt động giáo dục trẻ mầm non.

1.1. Mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra kiến thức

Đề cương xác định rõ mục tiêu trang bị hệ thống tri thức cơ bản về cơ thể người. Người học giải thích được bản chất khối thống nhất và khả năng tự điều chỉnh của cơ thể sống. Quá trình sinh trưởng thể hiện qua sự tích lũy về lượng của kích thước và khối lượng. Quá trình phát triển phản ánh biến đổi về chất trong cấu trúc và chức năng sinh lí. Sinh viên nắm vững các quy luật tăng trưởng qua từng thời kỳ từ sơ sinh đến tuổi nhà trẻ và mẫu giáo. Chuẩn đầu ra yêu cầu người học phân tích được sự tương tác giữa cơ thể với môi trường ngoại cảnh.

1.2. Cấu trúc chương trình và tài liệu tham khảo

Chương trình học phần phân bổ hợp lí giữa thời lượng lí thuyết và bài tập thực hành. Học phần sử dụng giáo trình chính do tác giả Lê Thanh Vân biên soạn từ Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội. Sinh viên còn được tiếp cận tài liệu tham khảo giá trị của các chuyên gia Tạ Thúy Lan và Trần Thị Loan. Nguồn học liệu cung cấp cơ sở dữ liệu phong phú về sinh lí học lứa tuổi mầm non. Người học bắt buộc nghiên cứu tài liệu trước khi lên lớp để thảo luận chuyên đề. Cấu trúc học phần tạo điều kiện tối đa cho việc tự học và nghiên cứu khoa học.

II. Phân tích đề cương sinh lí trẻ em Trường Đại học Tân Trào

Nội dung đề cương đi sâu vào phân tích các hệ cơ quan trọng yếu của trẻ mầm non. Cơ quan thính giác và hệ tuần hoàn giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển giao tiếp và sức khỏe của trẻ. Cấu tạo tai của trẻ sơ sinh có nhiều nét khác biệt lớn so với người trưởng thành. Loa tai trẻ em rất lớn trong khi ống tai ngoài lại hẹp dạng khe hở. Hệ thống xương tai gồm xương búa, xương đe và xương bàn đạp hỗ trợ khuếch đại cường độ âm thanh lên 20 lần. Đối với hệ tuần hoàn, các thành phần tế bào máu biến đổi liên tục theo lứa tuổi. Tủy xương đảm nhận nhiệm vụ tạo hồng cầu và bạch cầu để duy trì miễn dịch. Bạch cầu di chuyển bằng chân giả theo kiểu amip để thực hiện cơ chế thực bào chống nhiễm khuẩn. Số lượng tiểu cầu tham gia trực tiếp vào tiến trình đông máu bảo vệ cơ thể. Sự chưa hoàn thiện về mặt giải phẫu khiến trẻ rất dễ bị tổn thương nếu thiếu sự chăm sóc chu đáo.

2.1. Đặc điểm giải phẫu và thính giác ở trẻ nhỏ

Cơ quan thính giác của trẻ em có cấu trúc tinh vi gồm tai ngoài, tai giữa và tai trong. Ống tai ngoài ngắn và hướng dốc khiến màng nhĩ dễ chịu tác động từ môi trường. Khoang tai giữa thông trực tiếp với vòm họng qua ống ơxtat ngắn và rộng hơn của người lớn. Vi khuẩn từ mũi họng rất dễ lây lan vào tai giữa gây viêm nhiễm cấp tính. Ốc tai chứa cơ quan coocty với hàng chục nghìn tế bào thính giác chuyên biệt. Vách tai trong rất mỏng và dễ bị kích ứng bởi âm thanh có cường độ quá lớn.

2.2. Phân tích sinh lí hệ tuần hoàn và tạo máu

Hệ tuần hoàn đóng vai trò phân phối oxy và dưỡng chất nuôi sống các tế bào non nớt. Hồng cầu vận chuyển oxy nhờ phân áp khí và có chu kỳ sống từ một trăm đến một trăm ba mươi ngày. Khi mới sinh, tủy của toàn bộ các xương trong cơ thể đều tích cực tham gia tạo máu. Sau tuổi trưởng thành, chức năng tạo máu chỉ còn khu trú ở các xương dẹp. Số lượng bạch cầu thay đổi linh hoạt theo tình trạng sức khỏe và đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Trẻ nhỏ dễ bị thiếu máu và nhiễm trùng do hệ tạo máu chưa ổn định hoàn toàn.

III. Phương pháp dạy môn sinh lí trẻ em Trường Đại học Tân Trào

Giảng dạy học phần Sinh lí trẻ em đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và mô hình trực quan. Giảng viên áp dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề gắn liền với thực tiễn trường mầm non. Sinh viên được hướng dẫn quan sát tiêu bản hiển vi, biểu đồ tăng trưởng và mô hình giải phẫu chi tiết. Việc phân tích các ca bệnh học đường giúp người học nhận biết sớm những bất thường về thính giác hoặc tuần hoàn. Hoạt động thảo luận nhóm khuyến khích sinh viên tự xây dựng chế độ dinh dưỡng và vận động khoa học cho trẻ. Giảng viên yêu cầu người học lập hồ sơ theo dõi thể trạng cho từng nhóm tuổi cụ thể. Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng mô phỏng sinh động các phản ứng sinh hóa của cơ thể. Phương pháp kiểm tra đánh giá chú trọng năng lực xử lí tình huống thực tế của giáo viên tương lai. Nhờ đó, sinh viên chuyển hóa kiến thức sách vở thành kỹ năng nghiệp vụ sư phạm vững chắc.

3.1. Phương pháp giảng dạy tích cực qua mô hình trực quan

Giảng viên sử dụng tranh ảnh, mô hình giải phẫu ba chiều và video khoa học để minh họa bài học. Sinh viên quan sát trực tiếp cấu tạo ốc tai, tim và đường đi của các tế bào máu. Phương pháp trực quan giúp biến các khái niệm sinh học trừu tượng thành hình ảnh dễ hiểu và ghi nhớ lâu. Người học tham gia thực hành đếm nhịp tim, đo huyết áp và kiểm tra thính lực cơ bản. Kỹ thuật thảo luận tình huống kích thích tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề độc lập của sinh viên sư phạm.

3.2. Rèn luyện kỹ năng tự học và nghiên cứu khoa học

Đề cương bài giảng yêu cầu sinh viên phát huy tối đa tinh thần tự chủ trong học tập. Người học xây dựng đề cương tóm tắt các chương trước khi tham gia giờ học trên giảng đường. Hoạt động tra cứu tài liệu chuyên khảo giúp nâng cao kỹ năng xử lí thông tin khoa học của sinh viên. Các bài tập nghiên cứu nhóm tạo cơ hội khảo sát thực tế thể chất trẻ tại các trường mầm non địa phương. Phương pháp tự học rèn luyện tính kiên nhẫn, tác phong nghiên cứu nghiêm túc và tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp cao.

IV. Ứng dụng thực tiễn sinh lí trẻ em Trường Đại học Tân Trào

Học phần Sinh lí trẻ em mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn to lớn trong công tác chăm sóc mầm non. Giáo viên mầm non dựa vào quy luật sinh trưởng để sắp xếp thời gian biểu học tập và vui chơi khoa học. Chế độ vận động thể chất phù hợp giúp phát triển hệ xương khớp và tăng cường dung tích phổi của trẻ. Hiểu biết về cấu tạo thính giác nhắc nhở giáo viên điều chỉnh âm lượng giọng nói và tiếng ồn trong lớp học. Giáo viên nhận biết nhanh các triệu chứng viêm tai giữa để kịp thời phối hợp xử lí cùng phụ huynh. Kiến thức về máu và hệ miễn dịch hỗ trợ xây dựng thực đơn giàu dinh dưỡng phòng ngừa thiếu máu. Nhà trường mầm non duy trì môi trường học tập an toàn, sạch sẽ để bảo vệ sức khỏe học sinh. Sự kết hợp giữa tri thức sinh lí và tình thương tạo nên môi trường giáo dục hạnh phúc cho trẻ. Khóa học khẳng định vai trò cốt lõi của sinh lí học trong sự nghiệp giáo dục toàn diện.

4.1. Thiết kế chế độ chăm sóc và dinh dưỡng học đường

Kiến thức sinh lí học là căn cứ chuẩn mực để tính toán khẩu phần ăn cân đối cho trẻ mẫu giáo. Thực đơn hàng ngày cần cung cấp đủ protein, lipid, vitamin và các nguyên tố vi lượng như sắt. Bữa ăn khoa học giúp kích thích hoạt động tạo máu ở tủy xương và tăng cường miễn dịch tự nhiên. Giờ ngủ trưa và các buổi hoạt động ngoài trời được bố trí cân bằng theo nhịp sinh học của trẻ. Giáo viên theo dõi biểu đồ tăng trưởng cân nặng và chiều cao định kỳ để kịp thời phát hiện nguy cơ suy dinh dưỡng.

4.2. Bảo vệ giác quan và phòng ngừa bệnh học đường

Nhà trường mầm non cần thực hiện nghiêm túc các biện pháp vệ sinh tai, mũi, họng cho trẻ mỗi ngày. Môi trường lớp học phải đảm bảo ánh sáng tự nhiên và hạn chế tiếng ồn vượt ngưỡng cho phép. Giáo viên thường xuyên kiểm tra tư thế ngồi và phản ứng thính giác của từng học sinh trong giờ học. Việc phòng ngừa viêm tai giữa và nhiễm trùng hô hấp giúp trẻ duy trì khả năng tiếp nhận ngôn ngữ. Môi trường học tập an toàn giúp trẻ phát triển khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tâm lí xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

29/10/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂN TRÀO KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN ĐỀ CƢƠNG BÀI GIẢNG HỌC PHẦN: SINH LÍ TRẺ EM LỚP DẠY: ĐHMN K3 - VLVH ĐẠI HỌC MẦM NON A+B K4 Họ và tên giảng viên: Quan Thị Dung Chức danh khoa học: Thạc sỹ Bộ môn: Sinh – Hóa - KTNN Năm học: 2017 - 2018 1 Chƣơng I: TINH QUY LUẬT VỀ SỰ SINH TRƢỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CƠ THỂ Số tiết: 03 A. Kiến thức: - Người học giải thích được cơ thể con người là một khối thống nhất và là một hệ thống tự điều chỉnh. - Hiểu được các quy luật và đặc điểm của quá trình sinh trưởng, phát triển của trẻ em. - Nêu được các đặc điểm cơ bản của các giai đoạn phát triển cơ thể trẻ em.

Kỹ năng: - Hình thành ở sinh viên kỹ năng quan sát, phân tích các đặc điểm của từng giai đoạn phát triển lứa tuổi trẻ em. Thái độ: - Có tinh thần trách nhiệm đối với sự phát triển thể chất của trẻ, có thái độ khuyến khích, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ, phù hợp với đặc điểm sinh lí - cơ thể của lứa tuổi mầm non. Giảng viên: - Tài liệu chính: Lê Thanh Vân (2006), Giáo trình sinh lí học trẻ em, NXBĐHSP, Hà Nội. - Tài liệu tham khảo: Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan (2001), Giáo trình sinh lí học trẻ em, NXB Giáo dục, Hà Nội; Tạ Thúy Lan (2008), Giáo trình sinh lí học trẻ em, NXB GD, Hà Nội.

Người học: - Có đầy đủ giáo trình và vở ghi chép - Nghiên cứu nội dung của chương trước khi đến lớp C. Cơ thể con ngƣời là một khối thống nhất 1. Sự thống nhất về đơn vị cấu tạo - Đầu thế kỉ XX người ta xác định được các cơ thể sống đều cấu tạo từ tế bào. - Trong cơ thể con người có nhiều loại tế bào khác nhau (như TB cơ tim, TB xương, TB hồng cầu,.), hoạt động như một thể thống nhất.

Tế bào là một đơn vị cấu trúc, chức năng và di truyền cơ bản của cơ thể. VD: Cơ thể người có ít nhất 1012 TB. 2 + Tất cả các TB đều có 3 cấu trúc cơ bản: - Màng TB bao bọc bên ngoài TB, được cấu tạo từ Pr và L. Chức năng là giữ cho hình dạng của TB được ổn định, bảo vệ TB và thực hiện quá trình TĐC giữa TB với môi trường xung quanh.

- TBC: nằm giữa màng TB và nhân, chứa đầy trong TB dịch lỏng hoặc nhớt. Trong TBC có nhiều cấu trúc khác nhau được gọi là bào quan, như mạng lưới nội chất, ti thể, trung thể, bộ máy gôngi, RBX,. Chức năng là nơi SX ra các enzym, Pr và các chất khác cần thiết cho TB. + Nhân: nằm bên trong TBC, được bao bọc bởi 2 lớp màng.

Chức năng chứa thông tin di truyền và kiểm soát tất cả các hoạt động của TB. + Đặc trưng về chức năng: - TĐC và NL: Giữa cơ thể SV và MT luôn xảy ra quá trình TĐC và NL. Nhờ TĐC và NL mà cơ thể mới tồn tại, sinh trưởng và phát triển. - Sinh trưởng và phát triển: ST là hệ quả của quá trình TĐC và NL.

ST là tích lũy về lượng làm cho khối lượng và kích thước tăng lên. Khi ST đạt tới ngưỡng nhất định thì cơ thể chuyển sang trạng thái phát triển. PT là sự biến đổi về chất của cả cấu trúc lẫn chức năng sinh lí của cơ thể theo từng giai đoạn. - Sinh sản: là thuộc tính đặc trưng nhất của cơ thể sống.

Nhờ sinh sản mà cơ thể sống tồn tại, phát triển từ thế hệ này qua thế hệ khác, cơ thể thực hiện được cơ chế truyền đạt TTDT từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như vậy, mọi hoạt động sống của cơ thể được thực hiện từ mức độ TB. - Mô: là hệ thống các TB và các cấu trúc không phải TB liên kết với nhau để tạo ra một cấu trúc có cấu tạo, nguồn gốc phát sinh chung nhằm thực hiện một chức năng nhất định. Trong cơ thể con người có 4 loại mô cơ bản: mô biểu bì, mô liên kết, mô cơ và mô thần kinh.

+ Mô biểu bì: là loại mô phủ bề mặt một cơ quan, giới hạn cơ quan đó với môi trường. Chức năng bảo vệ và tham gia quá trình chuyển hóa. VD: Mô biểu bì da đến lông, móng và các tuyến da. + Mô liên kết (đệm-dinh dưỡng): Thành phần chủ yếu là chất gian bào không phải TB.

Dựa vào chức năng, phân ra 2 loại mô liên kết: Chức năng dinh dưỡng (máu và bạch huyết), chức năng đệm cơ học (xương, sụn). + Mô cơ: được cấu tạo chủ yếu từ các TB cơ, có chức năng vận động. Mô cơ được chia thành 3 loại: Mô cơ trơn, mô cơ vân và mô cơ tim. + Mô thần kinh: là loại mô phân hóa cao độ, có khả năng cảm ứng được các loại kích thích của môi trường.

Được cấu tạo từ các TBTK, có nhiệm vụ điều khiển, điều hòa và phối hợp hoạt động của các cơ quan trong cơ thể. - Các cơ quan: được tạo thành từ các loại mô liên kết với nhau theo một cách thức nhất định. 3 - Hệ cơ quan: được tạo thành từ các cơ quan có cùng một chức năng sẽ tập hợp với nhau theo một cách thức nhất định. Trong cơ thể con người có 8 hệ cơ quan: hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ tiêu hóa, hệ bài tiết, hệ vận động, hệ TK, hệ sinh dục và hệ thống các tuyến nội tiết.

Các hệ cơ quan liên hệ mật thiết và được sắp xếp theo một cách thức nhất định tạo thành một cơ thể hoàn chỉnh. Sự thống nhất giữa cấu tạo và chức phận - Các bộ phận trong cơ thể con người được hình thành và hoàn thiện dần trong quá trình phát triển chủng loại và cá thể, liên quan với chức năng của nó. Sự thống nhất giữa đồng hóa và dị hóa - Đồng hóa là quá trình tổng hợp nên các chất hữu cơ phức tạp từ các chất đơn giản. - Dị hóa là quá trình phân giải các chất hữu cơ phức tạp thành các chất đơn giản.

Sự thống nhất giữa các cơ quan và các hệ cơ quan trong cơ thể - Một cơ quan hoạt động sẽ ảnh hưởng tới các cơ quan khác: VD: khi ta LĐ, cơ làm việc, đồng thời nhịp tim đập nhanh hơn, nhịp thở gấp hơn. - Toàn cơ thể ảnh hưởng đến một bộ phận: VD: hiện tượng đói là biểu hiện toàn bộ cơ thể ảnh hưởng đến cơ quan tiêu hóa. - Các bộ phận trong từng cơ quan phối hợp và ảnh hưởng lẫn nhau: VD: khi ta nhảy thì có sự phối hợp giữa chân trái và chân phải 1. Sự thống nhất giữa cơ thể với môi trường - Khi môi trường thay đổi thì cơ thể cũng phải có những thay đổi, những phản ứng cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường, nếu không thì cơ thể sẽ không tồn tại được.

VD: khi trời rét ta “nổi da gà”. Cơ thể là một hệ thống tự điều chỉnh - Cơ chế điều tiết bằng con đường thể dịch: là cơ chế điều chỉnh chức năng bằng các chất hóa học. (như hoocmôn do tuyến nội tiết sản sinh ra) - Cơ chế điều tiết bằng con đường TK: là cơ chế điều chỉnh chức năng bằng hoạt động phản xạ của hệ thần kinh. Tính quy luật về sự sinh trƣởng và phát triển của cơ thể trẻ 2.

Khái niệm sự sinh trưởng và phát triển 2. Sự sinh trưởng - Là quá trình tăng liên tục khối lượng của cơ thể bằng cách tăng số lượng TB của cơ thể, dẫn đến tăng khối lượng mô, cơ quan và toàn bộ cơ thể. Phát triển - Là một quá trình thay đổi về mặt số lượng và chất lượng xảy ra trong cơ thể - Sự phát triển thể hiện ở 3 yếu tố: 4 • Sự tăng trưởng của cơ thể (sự lớn lên). • Sự phân hoá của các cơ quan và các mô.

• Sự tạo hình dáng đặc trưng cho cơ thể. - Đặc trưng của sự phát triển: Là những biến đổi về chất, là sự xuất hiện những dấu hiệu và thụôc tính được hình thành trong quá trình tăng trưởng. - Quá trình phát triển diễn ra từ từ, liên tục nhưng có thể có bước nhảy vọt… 2. Tính không đồng đều và dạng sóng của quá trình sinh trưởng - Sự tăng trưởng của các cơ quan khác nhau diễn ra không đồng đều và không đồng thời.

Mỗi cơ quan, bộ phận tăng trưởng với tốc độ riêng, khi nhanh, khi chậm, khi yếu…Vì vậy, tỉ lệ cơ thể bị thay đổi. Các tỉ lệ trên cơ thể thay đổi theo lứa tuổi - Trẻ sơ sinh được phân biệt với người lớn bằng chân tay ngắn, thân lớn và đầu to. VD: Trẻ sơ sinh chiều dài đầu =1/4 trọng lượng cơ thể; 2 tuổi chiều dài đầu = 1/5 trọng lượng cơ thể; 6 tuổi chiều dài đầu = 1/6 trọng lượng cơ thể; 12 tuổi chiều dài đầu = 1/7 trọng lượng cơ thể; Người lớn chiều dài đầu = 1/8 trọng lượng cơ thể; - Với các lứa tuổi, độ dài của đầu nhỏ dần và độ dài của xương kéo dài ra. - Có 3 thời kì khác nhau về tỉ lệ giữa chiều dài và chiều ngang của cơ thể: từ 4-6 tuổi, 6-15 tuổi và 15-người lớn.

Sự thay đổi không đồng đều - Nhịp độ tăng trưởng của cơ thể cũng không đồng đều: có những cơ quan thời gian đầu tăng trưởng nhanh sau chậm lại hoặc ngược lại. Có cơ quan tăng tỉ lệ thuận với khối lượng cơ thể VD: tim tăng 15 lần, cơ tăng 35 - 40 lần so mới sinh 2. Có cơ quan tăng nhanh ngay trong thời kì phát triển bào thai VD: não trẻ sơ sinh nặng 390g, não người lớn 1480g 2. Có những cơ quan khối lượng của chúng hoàn toàn không đổi sau khi sinh VD: Cơ quan thính giác, các ống bán khuyên nằm trong xương thái dương 2.

Mỗi thời kì lứa tuổi có những đặc điểm phát triển cá nhân - Thay đổi và phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, điều kiện và mức độ phát triển của hệ thần kinh. Gia tốc phát triển của cơ thể 3. Khái niệm Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, ở nhiều nước trên thế giới có hiện tượng tăng chiều cao của trẻ em. Ban đầu hiện tượng tăng tốc đựơc xem như sự 5 gia tăng phát triển thể lực ở trẻ em và lứa tuổi thanh niên.

Hiện nay, tăng tốc được định nghĩa là “hiện tượng tăng kích thước cơ thể và trưởng thành sinh dục sớm”. Phạm vi tăng tốc mở rộng đến việc tăng kích thước cơ thể và hiện tượng mãn kinh muộn ở người trưởng thành. Gia tốc phát triển của cơ thể 3.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Quan Thị Dung (2017), Sinh lí trẻ em, Đề cương bài giảng, Đại học Tân Trào.
APA 7
Quan, T. D. (2017). Sinh lí trẻ em [Đề cương bài giảng, Đại học Tân Trào]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/de-cuong-bai-giang-hoc-phan-sinh-li-tre-em-truong-dai-hoc-tan-trao/9387488443
IEEE
T. D. Quan, "Sinh lí trẻ em," Đề cương bài giảng, Đại học Tân Trào, 2017. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/de-cuong-bai-giang-hoc-phan-sinh-li-tre-em-truong-dai-hoc-tan-trao/9387488443

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác