phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của Luận văn gồm 4 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động vốn từ dân cư - Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu đề tài - Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động huy động vốn từ dân cư tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Thái Nguyên - Chƣơng 4:Giải pháp đẩy mạnh hoạt động huy động vốn từ dân cư tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TỪ DÂN CƢ 1.Tổng quan về nguồn vốn và hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại Vốn của ngân hàng thương mại (sau đây gọi là ngân hàng hoặc NHTM) có thể hiểu là những giá trị tiền tệ được NHTM tạo lập bằng các hoạt động huy động, đi vay để đáp ứng những hoạt động sử dụng vốn như cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Vốn của ngân hàng gồm: vốn chủ sở hữu và vốn nợ.2 * Vốn chủ sở hữu: Đây là là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được, thuộc sở hữu của ngân hàng. Nó mang tính ổn định và là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài để tài trợ cho tài sản cố định của ngân hàng (nhà cửa, máy móc, trang thiết bị…).
Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng cũng như yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Trong đó có: + Nguồn vốn hình thành ban đầu: Ngân hàng là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đặc thù, do đó để được pháp luật cho phép hoạt động, nguồn vốn ban đầu phải đáp ứng mức tối thiểu, được gọi là vốn pháp định. Tuỳ theo tính chất của mỗi ngân hàng mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác nhau. Đối với ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, nguồn này được cấp từ ngân sách Nhà nước.
Đối với ngân hàng cổ phần, các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phần. Đối với ngân hàng liên doanh, vốn hình thành ban đầu do các bên liên doanh góp. + Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn, ngân hàng có thể bổ sung vốn chủ sở hữu tùy từng điều kiện cụ thể. Trong đó, nguồn bổ sung quan trọng nhằm tái đầu tư là thu nhập ròng.
Tỷ lệ tích lũy phụ thuộc vào vào sự cân nhắc giữa tích lũy và tiêu dùng của chủ ngân hàng. Ngoài ra, vốn chủ sở hữu có thể được bổ sung một cách không thường xuyên thông qua 2 Phan Thị Thu Hà (2009), Quản Trị Ngân hàng Thương mại, Nhà xuất bản giao thông vận tải, Thành phố Hồ Chí Minh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 phát hành thêm cổ phần, vốn góp thêm của các thành viên hay được ngân sách Nhà nước cấp phát thêm. + Các quỹ: Nguồn gốc của quỹ được trích từ lợi nhuận sau thuế, mỗi quỹ có mục đích riêng. Quỹ dự phòng tổn thất được trích lập hàng năm và được tích luỹ lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra.
Quỹ bảo toàn vốn nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới tác động của lạm phát. Quỹ thặng dư là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới. Tuỳ theo quy định cụ thể, các ngân hàng còn có thể có quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, … + Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: Các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng mà có khả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận của vốn sở hữu của ngân hàng (vốn bổ sung) do nguồn này có thể sử dụng lâu dài và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn. * Vốn nợ: là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm vốn để kinh doanh.
Vốn nợ là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng có quyền sử dụng và phải hoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn. Nguồn vốn này luôn biến động, tuy nhiên nó đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động của ngân hàng. Vốn nợ gồm: + Tiền gửi: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn, bao gồm các khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế (TCKT), cá nhân, tổ chức tín dụng (TCTD)… Tiền gửi được NHTM huy động dưới nhiều hình thức khác nhau: * Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán): Là loại tiền gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào theo yêu cầu của người gửi. Đối với loại tiền gửi này, lãi suất thường thấp hơn lãi suất trả cho các khoản tiền gửi có lãi khác nhưng khi khách hàng mở và sử dụng tài khoản này thì ngân hàng cung ứng các loại dịch vụ miễn phí hoặc với mức phí rất thấp.
Do vậy tài khoản này đem lại cho khách hàng sự an toàn trong việc thanh toán và bảo quản vốn. Còn ngân hàng phải bỏ ra một số chi phí cho bộ máy kế toán theo dõi và ghi chép các nghiệp vụ phát sinh, chi phí phát hành séc, chi phí bảo hiểm tiền gửi. Chi phí này khá lớn nhưng nó được bù đắp lại bởi trên thực tế, do lượng tiền gửi vào và rút ra không cùng một lúc và chủ tài khoản thường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 không dùng hết số tiền trên tài khoản của mình, số dư ấy ngân hàng được phép dùng để đầu tư, cho vay đối với các doanh nghiệp, TCTD hay các cá nhân thiếu vốn kinh doanh để thu lợi nhuận. Do tính chất thường xuyên biến động nên ngân hàng không thể định ra kế hoạch sử dụng trước được mà chỉ dựa vào kinh nghiệm quản lý, ngân hàng có thể tận dụng ở một mức độ cho phép.
* Tiền gửi có kỳ hạn (của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội): là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định. Khoảng thời gian này được xác định trước. Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút tiền ra khi đến hạn và được hưởng số tiền lãi trên số tiền gửi đó,không được sử dụng các hình thức thanh toán như đối với tiền gửi thanh toán. Hiện nay, để thu hút vốn các NHTM cho phép khách hàng rút tiền trước kỳ hạn nhưng khách hàng không được hưởng lãi suất ấn định trước mà chỉ được hưởng theo lãi suất của loại tiền gửi không kỳ hạn.
Do tính chất của nguồn này tương đối ổn định ngân hàng lại có thể sử dụng được phần lớn số dư từ loại nguồn vốn này để cho vay trung và dài hạn nên đã tạo điều kiện cho ngân hàng trong quá trình kinh doanh. Để thu hút được nhiều khách hàng ngân hàng đã đưa ra nhiều loại kỳ hạn với các mức lãi suất khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu gửi tiền của khách hàng. * Tiền gửi tiết kiệm: Đây được coi là công cụ huy động truyền thống của ngân hàng, là khoản tiền để dành của mỗi cá nhân gửi vào ngân hàng. Khách hàng nhận được một sổ tiết kiệm - đây được coi như giấy chứng nhận gửi tiền vào ngân hàng.
Đến thời hạn ghi trên sổ, khách hàng rút tiền ra và được nhận một khoản tiền lãi trên tổng số tiền gửi tiết kiệm. * Tiền gửi của TCTD khác: Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, các NHTM có thể mở tài khoản tiền gửi ở các NHTM khác. Tuy nhiên, quy mô của nguồn này thường không lớn. + Tiền vay: Bên cạnh tiền gửi - nguồn quan trọng nhất của NHTM, các NHTM còn có thể vay mượn thêm.
Tại nhiều nước, ngân hàng Trung ương còn quy định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn của chủ sở hữu. Do vậy nhiều ngân hàng vào những giai đoạn cụ thể phải đi vay để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 * Vay ngân hàng Trung ương: Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu thanh khoản cấp bách của ngân hàng thương mại. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc,dự trữ thanh toán), NHTM thường vay NHNN.
Hình thức cho vay chủ yếu là tái chiết khấu (hoặc tái cấp vốn) thông qua công cụ là các giấy tờ có giá (thương phiếu, trái phiếu…). Khi có nhu cầu, các NHTM mang những giấy tờ có giá này lên tái chiết khấu tại NHNN. Nghiệp vụ này làm tài sản là giấy tờ có giá của NHTM giảm đi và dự trữ (tiền mặt hoặc tiền gửi tại các ngân hàng Nhà nước) tăng lên. Nghiệp vụ này được NHNN điều hành, kiểm soát một cách chặt chẽ.
Thông thường, NHNN chỉ tái chiết khấu cho những giấy tờ có giá có chất lượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của ngân hàng trong từng thời kì. Trong điều kiện chưa có giấy tờ có giá, NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.3 * Vay các TCTD khác: Đây là nguồn vay mượn lẫn nhau giữa ngân hàng và các TCTD khác trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do dồi dào về nguồn huy động hoặc có nhu cầu giảm cho vay sẽ có thể cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại các ngân hàng thiếu hụt dự trữ lại có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản.Như vậy nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách và trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ NHNN.
Quá trình vay mượn rất đơn giản, ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý (hoặc NHNN). Khoản vay có thể không cần đảm bảo hoặc có thể đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc. Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và của ngân hàng đi vay tăng lên.