Phần mở đầu và kết thúc có sự kết hợp để làm nổi bật tư tưởng, chủ đề của tác phẩm - Sự lựa chọn sắp xếp các chi tiết đời sống có tác dụng làm nổi bật ý nghĩa của tác phẩm - Các chương, đoạn được sắp xếp tạo sự hứng thú, tò mò cho độc giả. * Lời kể Ngoài ngôn ngữ nhân vật thì trong truyện ngắn còn có lời kể. Lời kể thường xuất hiện trong các đoạn miêu tả, dẫn dắt. Lời kể thể hiện phong cách lời văn, giọng điệu, vốn từ, cách diễn đạt của tác giả.
Thực tiễn truyện ngắn sau năm 1975 1. Bối cảnh lịch sử Ngày 30/4/1975 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài 30 năm đã kết thúc toàn thắng. Đất nước thu về một mối, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế mở rộng (quan hệ với 97 nước trên thế giới). Đất nước bước vào thời kỳ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đại hội lần thứ tư, 5,6, 7, 8 được tiến hành định kỳ, mỗi nhiệm kỳ đại hội đều đặt ra cho đất nước những nhiệm vụ mới. Sau giải phóng Miền Nam đất nước chuyển mình sang cải tạo về kinh tế đất nước nền văn học dân tộc tưởng như cứ thế “thừa thắng xông lên” giành những thành tựu rực rỡ hơn. Những người cầm bút có sự hụt hẫng, một sự lệch pha “giữa người sáng tác và công chúng của mình”. Nguyên Ngọc ghi lại những tâm trạng của mình: Trong khi các nhà văn chúng ta say xưa, bây giờ hoà bình vốn sống tích luỹ bao nhiêu năm bao năm như “cá tức trứng” muốn đẻ lắm rồi, thì giờ thừa nứa ra đó, bom đạn cũng thẳng hết rồi, vật chất cũng khốn đốn hơn nhiều, tha hồ mà viết, viết cho hết cho đã, thì bỗng dưng cái mối quan hệ vốn rất máu thịt giữa công chúng và văn học đột nhiên, lạnh nhạt hẳn đi, hụt hẫng hẳn đi, người đọc mới hôm qua mặn mà thế, bỗng dưng bây giờ quay lại với anh bởi vì thôi thế đã thay đổi, mà văn học vẫn viết theo quá trình cũ.
Đặc biệt đại hội đảng lần thứ VI (1986), Nghị quyết mới về nền văn học là yêu cầu bức thiết, là vấn đề có ý nghĩa sống còn của đất nước. Đặc biệt từ nghị quyết VI của đảng luôn luôn đặt cho văn học nghệ thuật một nhiệm vụ mới quan trọng đó là: “Bảo đảm tự do dân chủ cho mọi sáng tạo cuả văn học nghệ thuật, tạo điều kiện làm việc thuận lợi để phát huy hiệu quả của lao động nghệ thuật”. Văn nghệ phải biết cổ vũ cái tốt phê phán cái sấu, chống các khuynh hướng trái với đường lối văn nghệ của đảng. Công cuộc đổi mới đã đáp ứng đúng nguyện vọng của các nhà văn và độc giả cũng như quy luật phát triển khách quan của lịch sử, và nó trở thành phong trào mạnh mẽ.
Năm 1976 Thái Bá Lợi viết Hai người trở lại trung đoàn. 1979 Nguyên Trọng Oánh viết Đất trắng, Nguyễn Khải viết Cha và con. Từ đầu những năm 1980 tình hình sôi nổi hơn, Nguyễn Mạnh Tuấn viết Những khoảng cách còn lại, Đứng trước biển, Cù lao tràm, Ma Văn Kháng viết Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Nguyễn Minh Châu viết Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Lê Lựu viết Thời xa vắng, Nguyễn Khải viết Thời gian của người. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy hoàn cảnh lịch sử mới đã tạo nên một nền văn học có những thay đổi rõ nét có chiều sâu, phát triển theo hướng đổi mới, dân chủ phát triển mạnh mẽ gây được sự chú ý của dư luận.
Diện mạo truyện ngắn sau năm 1975 Thứ nhất: Chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người. Thuật ngữ quan niệm trong nghệ thuật là một khái niệm về chủ thể, khái niệm về hệ quy chiếu, thể hiện tầm lí giải, tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm, nói tổng quát là tầm hoạt động của chủ thể. Quan niệm cung cấp một mặt bằng để trên đó diễn ra sự lựa chọn, khái quát, nhào nặn, tạo ra hình tượng nghệ thuật, thậm chí có thể biến đổi hình dạng sự vật hoặc miêu tả không chính xác về đời sống. Bởi vậy mỗi nhà văn có quan niệm riêng về hiện thực.
Đó là sự nhận thức, đánh giá về hiện thực cuộc sống của nhà văn theo một quan điểm thẩm mĩ nhất định. Như thế không có nghĩa là quan niệm nghệ thuật về hiện thực của nhà văn chỉ là nhận thức trừu tượng, lí thuyết, chung chung. Trái lại, đó là cách nhìn, là sự cảm nhận về đời sống xã hội được nâng lên tầm khái quát nhưng vẫn mang hơi thở của cuộc sống và vẫn gắn bó máu thịt với cuộc đời thực. Quan niệm về hiện thực thể hiện sự khám phá, sự lí giải, trình độ chiếm lĩnh hiện thực của nhà văn.
Và mỗi người thường có môt vùng đối tượng thẩm mĩ riêng mà tự nó đã ghi đậm dấu ấn của chủ thể sáng tác. Sau chiến tranh, khi hiện thực cuộc sống thay đổi, khi tư duy nghệ thuật cũng dân chủ hơn thì biên độ của hiện thực ngày càng được mở rộng. Đó không chỉ là hiện thực về đời sống chiến tranh được miêu tả dưới cái nhìn mới mà còn là hiện thực về số phận của một cá nhân, một gia đình, một dòng họ sau những tổn thất to lớn trong chiến tranh, hay là hiện thực cuộc sống trong thời kì khủng hoảng, bế tắc của xã hội. Cuộc sống được phản ánh vào trong tác phẩm không chỉ là cái phần anh hùng cao cả mà còn thấm thía nỗi buồn của con ngưòi phần hậu chiến, là cuộc sống với tất cả cái sôi động quyết liệt của cuộc đấu tranh cũng như cái đời thường vừa nhân hậu ấm áp, vừa nhếch nhác lấm lem.Sự thay đổi trong quan 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com niệm về hiện thực như vậy giúp nhà văn phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn hơn, chân thực hơn.
Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức để thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hiện tượng nhân vật trong đó. Vì vậy tìm hiểu nghệ thuật về con người tức là tìm hiểu cách nhìn, chiều sâu của sự khám phá, sự lý giải, trình độ chiếm lĩnh con người của nhà văn. Quan niệm nghệ thuật về con người là cốt lõi tinh thần, là phương diện có tầm quan trọng hàng đầu để xác định những đặc trưng cơ bản, xác định trình độ, tài năng, sự đóng góp của nhà văn cho văn học và đời sống. Quan niệm về con người liên quan đến toàn bộ quá trình sáng tạo của nhà văn, đến tất cả các yếu tố nội dung và hình thức của tác phẩm.
Nó đánh dấu sự thay đổi đáng kể của hệ hình tư duy trong sáng tác của nhà văn. Tuy nhiên không thể quy nó vào tinh thần đạo đức, chính trị, nhận thức cảm tính hay tư duy lý luận của họ. Văn học sau 1975 chuyển sang phản ánh con người cá nhân. Con người được miêu tả trong văn học không còn đại diện cho cái chung nữa mà là con người cá nhân trong các mối quan hệ đa chiều của nó.
Đó cũng chính là những cá nhân được khám phá và phát hiện trong quá trình hình thành nhân cách dưới sự tác động chi phối của các yếu tố xã hội của nó, thân phận và cuộc đời của nó được phản ánh một cách sinh động và phong phú như trong giai đoạn hiện nay. Chưa bao giờ số phận cá nhân, bi kịch cá nhân được đặt ra một cách bức xúc và mạnh mẽ như thế, số phận cá nhân được giải quyết thoả đáng trong mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng. Quan niệm con người cá nhân không dẫn đến sự cô lập cá nhân trong cộng đồng xã hội, đằng sau mỗi số phận của từng cá nhân vẫn là những vấn đề có nghĩa nhân sinh của cuộc sống hôm nay. Hầu hết những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu những năm 80 thể hiện khá rõ những bi kịch tự nhận thức của con người.
Như vậy Nguyễn Minh Châu đã chạm vào chiều sâu 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của lòng nhân bản ở con người. Khám phá con người cá nhân nên truyện ngắn sau 1975 hướng đến thế giới tinh thần, đời sống tâm hồn ở mỗi con người. Thứ hai: Sự tiếp nối của những thế hệ nhà văn tài năng. Truyện ngắn sau năm 1975 phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng.
Góp phần cho những thành công đó, trước hết phải kể đến đội ngũ tác giả dày dặn kinh nghiệm trong sáng tác, được coi là lớp cận vệ già như: Nguyễn Kiên, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Tô Hoài, Đỗ Chu… các cây bút này đã in dấu ấn đậm nét trong văn học kháng chiến, nhưng sau 1975 họ đã có sự đổi mới trong sáng tác. Đặc biệt khi chuyển sang viết về những vấn đề của con người trong cuộc sống thường nhật sau chiến tranh, lớp nhà văn đứng tuổi này như đang hồi xuân, các giác quan như trẻ lại và lối cảm nhận đời sống ở họ trở nên uyển chuyển và tinh tế hơn .Ngòi bút của họ cũng có phần linh hoạt hơn trước, trong đó hiện tượng đáng chú ý nhất là Nguyễn Minh Châu- người mở đường tinh anh và tài hoa với hai tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983) và Bến quê (1985). Sau lớp cận vệ già phải kể đến sự xuất hiện và khẳng định của một loạt cây bút mới mà trong chiến tranh họ ở vị trí của người lính (hoặc ít ra cũng rất gần với công việc của người lính) như: Chu Lai, Thái Bá Lợi, Xuân Đức, Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Thị Như Trang, Trung Trung Đỉnh… Trong những năm chiến tranh, họ chưa xuất hiện với tư cách là nhà văn dù một vài người trong họ được đào tạo ít nhiều về nghề văn, nghề báo. Thế hệ này đã đem vào trong văn xuôi, đặc biệt ở những tác phẩm viết về chiến tranh, sự từng trải, những kinh nghiệm cá nhân của mình và của thế hệ mình đã tích luỹ trong những năm chiến đấu.
Sau những cuộc thi viết truyện ngắn cho báo văn nghệ (1978-1979, 1983-1984) và tạp chí Văn nghệ quân đội (1982,1983,1984) tổ chức, xuất hiện một loạt cây bút mới : Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Lê Minh Khuê, Dương Thu Hương, Trần VănTuấn, Hồ Anh Thái, Phạm Thị Minh Thư, Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Quang Lập, Dạ Ngân.